Kinh nghiệm tiêu thụ sản phẩm của Liên đoàn Hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc

Liên đoàn quốc gia HTXNN Hàn Quốc (NACF) được thành lập từ năm 1961, là tổ chức cao nhất. Từ năm 1980, hệ thống HTXNN không ngừng hoàn thiện về tổ chức và hình thức hoạt động và đến nay đã rất hoàn chỉnh. NACF có nhiều chức năng của một tổ chức kinh doanh đa ngành, từ tiếp thị sản phẩm, chế biến, cung cấp vật tư nông nghiệp, hàng tiêu dùng, tín dụng và bảo hiểm, vận tải, lưu kho, quảng canh và các dịch vụ hỗ trợ cho 5 triệu nông dân, nắm giữ 40% thị phần nông phẩm trong nước, và là một ngân hàng có số tiền gửi lớn nhất trong nước, tổng số lao động làm việc trong các cơ sở của liên đoàn là 17.806 người và 51.231 nhân viên làm việc trong các HTX.

Là quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển ở Đông Bắc Á, một nền kinh tế công nghiệp phát triển nhưng Hàn Quốc vẫn bảo đảm công việc và thu nhập của số lao động nông nghiệp (chiếm 11,6% lao động Hàn Quốc).

Cũng như nhiều quốc gia Châu Á, các nông trại gia đình của Hàn Quốc là đơn vị kinh tế tự chủ nhưng quy mô trang trại nhỏ, bình quân chỉ có 1,3ha/hộ. Cho đến năm 1960, nông nghiệp vẫn chiếm ½ GDP của nền kinh tế và ½ lao động, nhưng đến năm 2000 chỉ chiếm 4,4% GDP, năm 2002 chiếm 3,5% và sử dụng 2,3 triệu lao động. Nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn là vấn đề nhạy cảm của các quốc gia công nghiệp hoá, nông nghiệp của Hàn Quốc có bước chuyển mạnh sang các hoạt động dịch vụ để nông dân tiếp cận với thị trường, nâng giá trị sản phẩm nông nghiệp trong nền kinh tế, có khả năng cạnh tranh với sức ép mở cửa thị trường sản phẩm nông nghiệp trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế.

Hàn Quốc có khả năng cân đối lương thực, trong điều kiện nhu cầu lương thực giảm và đòi hỏi chất lượng lương thực cao. Việc nhập khẩu gạo phải theo cam kết WTO, tiêu dùng sản phẩm rau tăng lên và nông dân phải đối mặt với sản phẩm rau quả nhập từ Trung Quốc.

Liên đoàn quốc gia HTXNN Hàn Quốc (NACF) được thành lập từ năm 1961, là tổ chức cao nhất (HTX của các HTX ở cấp quốc gia) của HTX, liên hiệp HTXNN Hàn Quốc, được qui định trong Luật HTXNN Hàn Quốc. Từ năm 1980, hệ thống HTXNN không ngừng hoàn thiện về tổ chức và hình thức hoạt động và đến nay đã rất hoàn chỉnh. Cơ quan đứng đầu của Hệ thống là NACF, trong đó có hai nhánh là HTX cơ sở và HTX ở đô thị. Chủ nhiệm HTX do xã viên bầu. Chủ tịch và Kiểm toán viên chính của NACF do các chủ nhiệm HTX cơ sở bầu lên. Các thành viên khác của ban lãnh đạo NACF được Chủ tịch đề cử và hội nghị đại biểu của chủ nhiệm HTX cơ sở chấp thuận.

NACF có nhiều chức năng của một tổ chức kinh doanh đa ngành, từ tiếp thị sản phẩm, chế biến, cung cấp vật tư nông nghiệp, hàng tiêu dùng, tín dụng và bảo hiểm, vận tải, lưu kho, quảng canh và các dịch vụ hỗ trợ cho 5 triệu nông dân. Hệ thống kinh doanh gồm 1.387 HTX thành viên, 500 trung tâm kinh doanh khác, nắm giữ 40% thị phần nông phẩm trong nước, và là một ngân hàng có số tiền gửi lớn nhất trong nước, tổng số lao động làm việc trong các cơ sở của liên đoàn là 17.806 người và 51.231 nhân viên làm việc trong các HTX.

1. Kinh nghiệm mở rộng chế biến sản phẩm nông nghiệp để tăng tốc độ tiêu thụ hàng nông sản
Dưới tác động của các vòng đàm phán WTO về nông nghiệp, ngành nông nghiệp Hàn Quốc phải đối mặt với thách thức khó khăn nhất từ trước tới nay. Đó là sự tràn ngập sản phẩm gạo và các nông sản khác nhập khẩu trên thị trường nội địa. Đối mặt với thực tế này, NAFC đã chủ động xây dựng một chương trình tiêu thụ sản phẩm cho mình.

Để gia tăng giá trị nông sản, tạo thu nhập và việc làm cho dân cư nông thôn và tăng khả năng cạnh tranh của hàng nông sản. Các HTX nông nghiệp của Hàn Quốc rất chú trọng đến việc nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng cho sản phẩm để cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu. Số lượng nhà máy chế biến nông sản tăng từ 9 (năm 1988) lên 153 (năm 1998) nhà máy chế biến nông sản hiện đại với qui mô lớn trên toàn quốc và Khoa công nghệ thực phẩm đã được thành lập tại trường Đại học HTXNN Hàn Quốc vào năm 1991 để đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực chế biến nông sản cho các HTX. Trong đó có 14 nhà máy chế biến rau, 13 nhà máy làm dưa kim chi (món đặc sản nổi tiếng của Hàn Quốc), 12 nhà máy chế biến gạo, 12 nhà máy chế biến nước uống, 11 nhà máy chế biến đậu tương, 10 nhà máy chế biến chè và 8 nhà máy chế biến ớt. Tổng doanh thu qua các hoạt động chế biến năm 1998 đạt 174 triệu USD.

Cuối năm 1993, NAFC đã thiết lập 183 điểm thu mua hàng nông sản, 116 kho bảo quản lạnh và 30 trung tâm phân loại hoa quả. Và lần đầu tiên, khu chế biến tổng hợp sản phẩm gạo bao gồm các công đoạn sấy, lưu kho, xay xát và đóng gói sản phẩm gạo sau thu hoạch được thành lập tại Dang-jin và Eui-Sung. Từ năm 1990 – 1993, số lượng các siêu thụ hàng nông sản tăng từ 38 lên 217, các cửa hàng marketing trực tiếp tăng từ 38 lên 151 và các trung tâm buôn bán tăng từ 1 lên 6. Các điểm buôn bán hàng nông sản nhỏ được thành lập ngay tại các văn phòng chi nhánh của NACF. Đến cuối năm 1998, các trung tâm trưng bày và bán buôn hàng nông sản đã được thành lập tại Yang-Jae, Chang-Dong và Cheong-Ju. Các trung tâm buôn bán đã được xây dựng ở Gun-wi vào năm 1999, và Koh-Yang vào năm 2001. Thị phần của các HTX đã chiếm tới 40% vào năm 2001.
 
Chế biến là con đường tăng giá trị nông sản, lấy lãi từ các nhà máy này để tái đầu tư cho các hợp tác xã thành viên và tăng giá trị thu mua nông sản. NACF đã tổ chức nhiều nhà máy chế biến gạo, kim chi (rau muối có gia vị), chè, đậu tương, tinh bột, tinh dầu. Với công nghệ hiện đại, sản phẩm có phong cách riêng nên thị trường của NACF đã mở rộng ra nhiều quốc gia, phục vụ món ăn kim chi, đồ uống, gạo, rau, hoa quả, sâm,…cho các hãng hàng không quốc tế như hàng Hàng không Quốc gia Hàn Quốc, Hàng không châu Á,…

2. Kinh nghiệm tiếp thị hàng nông sản của HTXNN Hàn Quốc
 
Để chuẩn bị đối phó với sự xâm nhập thị trường Hàn Quốc của các đối thủ cạnh tranh ngoại quốc và để củng cố hoạt động TTSP của HTX, NACF đã tập trung phát triển hoạt động TTSP. Mở rộng thị trường nông sản là một nhiệm vụ chính của các HTXNN Hàn Quốc.

Trong NACF có Trung tâm bán buôn và phân phối nông sản chịu trách nhiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản và bảo vệ thị trường. Với mục tiêu đưa sản phẩm của HTX đến với người tiêu dùng, các kênh tiếp thị được tổ chức tại các trung tâm tiêu dùng quan trọng. Hệ thống này bao gồm các tổ hợp thương mại, kho tàng hiện đại, cửa hàng bán buôn, bán lẻ, chợ nông dân.

NACF đã tổ chức hệ thống tiêu thụ gồm 99 trung tâm bán buôn nông sản, và 12 “Câu lạc bộ Hanaro” (cửa hàng giảm giá lưu kho cho các thành viên), và 2.206 “Hanaro Mart” (siêu thị cho những người không phải là xã viên) và các tổ hợp tiếp thị nông sản. Mô hình này đã giảm chi phí tiếp thị đơn lẻ, của các thành viên, mặt khác các thành viên bán sản phẩm ổn định với mức giá có lợi.

Năm 1997, NACF đổi mới phương thức bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng bằng cách xây dựng 8 tổ hợp phân phối hàng ở Xơ-Un và các thành phố lớn trên toàn quốc với vốn dầu tư lên tới 302 tỷ won, nhiều tổ hợp hoạt động có hiệu quả. Các tổ hợp này liên kết với các nhà phân phối khác cùng với công nghệ phân loại, sơ chế, bảo quản, bao gói,…

Diện tích lãnh thổ Hàn Quốc nhỏ, NACF đã tổ chức hữu hiệu cơ chế “mua tận gốc, bán tận siêu thị”, đầu tư các xe chuyên dùng cùng với các trung tâm thu mua mới. NACF quản lý một mạng lưới dịch vụ vận chuyển nông sản từ cửa nông trại đến người tiêu dùng với 1.500 ô tô chuyên dụng, 1.108 trung tâm tập trung hàng, hỗ trợ cho 20,5 ngàn nhóm vận chuyển hàng hoá của các HTXNN. Cơ chế tái phân phối lợi nhuận cho quỹ hỗ trợ vận tải hàng hóa của hợp tác xã đã làm tăng giá trị nông sản hàng hóa của hợp tác xã, tăng tỷ trọng hàng hóa của hợp tác xã chiếm đến 70% doanh số bán hàng nông sản của NACF. NACF chú trọng các nhu cầu cá biệt của khách hàng là người nước ngoài, nhu cầu trong các ngày lễ, nhu cầu của chính nông dân mỗi vùng, mở ra các kênh tiêu thụ hướng dẫn sản xuất, phân loại sản phẩm, chuẩn bị chân hàng kịp thời vụ.

Bên cạnh đó, tháng 7/1990, NACF đã thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn HTXNN Hàn Quốc như là một công ty con của NACF và mở Trung tâm buôn bán hàng nông sản tại NewYork, Hoa Kỳ và tại Fukuoka, Nhật Bản.

Doanh số nông sản của hệ thống HTXNN Hàn Quốc năm 1998 đạt tới 9,3 tỷ USD, trong đó 70% từ các HTX cơ sở. Do gắn chặt với người sản xuất, công tác kinh doanh nông sản của NACF chẳng những đáp ứng nhu cầu sống còn về tiêu thụ nông sản cho nông dân mà còn cho phép nông dân sản xuất theo đúng yêu cầu của thị trường, giảm tối thiểu chi phí lưu thông hao hụt mất mát, do đó, hiện nay, Liên đoàn quản lý một hệ thống doanh nghiệp kinh doanh nông sản lớn nhất và cạnh tranh mạnh nhất, nắm giữ 40% thị phần buôn bán nông sản trên thị trường Hàn Quốc.

mpi.gov.vn

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.