Dương Phục

Gỡ khó về vốn cho HTX nông nghiệp

Gỡ khó về vốn cho HTX nông nghiệp

Các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp giữ vai trò rất quan trọng hình thành và phát triển các chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, hiện đa phần các HTX nông nghiệp còn thiếu vốn và khó tiếp cận các nguồn vốn vay để mở rộng sản xuất kinh doanh và đa dạng hóa dịch vụ phục vụ xã viên…

Khó khăn về vốn

Ðến tháng 6-2022, cả nước có 18.795 hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, chiếm 70% trên tổng số loại hình HTX của cả nước. Các HTX nông nghiệp thu hút sự tham gia của 3,2 triệu thành viên. Tuy nhiên, quy mô của phần lớn các HTX còn khá nhỏ và có số vốn tương đối ít nên doanh thu và lợi nhuận cũng còn khiêm tốn. Bình quân mỗi HTX có khoảng 176 thành viên tham gia, với tổng số vốn bình quân của mỗi HTX nông nghiệp chỉ khoảng 1,5 tỉ đồng. Hiện phần lớn các HTX còn thiếu vốn, không có đất để làm nhà xưởng, cơ sở chế biến và khó tiếp cận các nguồn vốn vay, đồng thời HTX cũng khó huy động vốn từ xã viên.

Sản xuất lúa tại HTX Nông nghiệp Thịnh Phát ở huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ.

Theo Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển Nông thôn thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), thời gian qua, ngân sách nhà nước đầu tư cho khu vực kinh tế tập thể và HTX còn hạn chế. Tiếp cận vốn vay của HTX theo chính sách tín dụng nông nghiệp nông thôn cũng khá thấp, chỉ chiếm 2,18% tổng dư nợ đã giải ngân. Về tiếp cận tín dụng của các HTX nông nghiệp, tổng dư nợ đến năm 2021 đạt 6.000 tỉ đồng. Trong đó, giai đoạn 2002 đến nay, chỉ có khoảng 7.030 HTX được hỗ trợ tín dụng, bình quân chỉ có khoảng 700 HTX/năm, tương đương chỉ có 3,7% HTX được tiếp cận tín dụng hằng năm. Hằng năm, số lượng HTX được hỗ trợ ưu đãi về tín dụng từ Quỹ hỗ trợ phát triển HTX cũng còn rất khiêm tốn.

Về huy động vốn nội bộ của các HTX, theo thống kê của Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển Nông thôn, hiện cả nước có 1.200 HTX có hoạt động tín dụng nội bộ, huy động bình quân 600 triệu đồng/HTX. Còn huy động vốn góp của thành viên, bình quân mỗi HTX chỉ huy động được khoảng 623 triệu đồng, tương đương bình quân 3,36 triệu đồng/thành viên. Có nhiều trường hợp là thành viên của HTX nhưng không góp vốn điều lệ (khoảng 14%).

“Khai thông” tín dụng cho HTX

Vốn đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động và phát triển của HTX. Ðặc biệt, nó giúp HTX mở rộng sản xuất kinh doanh và phát triển các dịch vụ phục vụ thành viên như dịch vụ đầu vào phục vụ sản xuất, các dịch vụ bảo quản, sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Ðồng thời, tạo điều kiện để HTX ứng dụng khoa học công nghệ mới, đầu tư trang thiết bị máy móc và các cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất kinh doanh. Qua đó, thúc đẩy HTX đẩy mạnh chế biến sản phẩm, tăng giá trị gia tăng thay vì bán sản phẩm thô với giá thấp.

Dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng các HTX nông nghiệp đã khẳng định vai trò không thể thiếu trong việc liên kết phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Do vậy, các cấp và các ngành chức năng cần quan tâm “khai thông” các nguồn tín dụng để tạo điều kiện cho HTX nông nghiệp phát triển. Hiện có 37% HTX nông nghiệp tham gia liên kết, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân và các HTX đã tham gia phát triển được 6.925 chuỗi liên kết. Số lượng HTX ứng dụng các công nghệ cao và làm chủ thể sản phẩm OCOP ngày càng tăng. Theo Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển Nông thôn, hiện cả nước có 1.142 HTX là chủ thể của các sản phẩm OCOP và có gần 2.000 HTX ứng dụng công nghệ cao, chiếm hơn 10% tổng số HTX nông nghiệp. Về hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp, hiện có 17,3% đạt loại tốt, 37,7% đạt loại khá, 36,6% đạt loại trung bình, loại yếu là khoảng 8,4%.

Tổ Ðiều hành Diễn đàn thông tin kết nối sản xuất và tiêu thụ nông sản của Bộ NN&PTNT vừa phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức diễn đàn trực tuyến “Khai thông tín dụng vi mô phục vụ chuỗi liên kết, sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và HTX”. Tại diễn đàn này, nhiều chuyên gia và đại diện HTX nông nghiệp, cho rằng, để các HTX thuận lợi trong tiếp cận vốn, ngành chức năng cần tăng cường các hoạt động tập huấn về tài chính, tín dụng cho HTX, cũng như hỗ trợ kết nối với các tổ chức tín dụng. Kịp thời bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về vốn cho HTX và doanh nghiệp trong phát triển chuỗi liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản. Tăng cường thêm nguồn vốn cho các Quỹ hỗ trợ HTX tại các địa phương và tạo điều kiện để các HTX được tiếp cận đa dạng nhiều nguồn vốn… Ông Nguyễn Văn Ðời, Giám đốc HTX dịch vụ nông nghiệp Bình Thành, huyện Lấp Vò, tỉnh Ðồng Tháp, kiến nghị: “Tín dụng nội bộ là hoạt động rất bức thiết đối với HTX và giúp các xã viên tránh phải tiếp cận tín dụng đen. Trước đây, HTX thực hiện hoạt động tín dụng nội bộ theo Thông tư số 15/VBHN-NHNN ngày 21-5-2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nhưng hiện thông tư này không còn giá trị pháp lý, các HTX rất mong sớm có văn bản hướng dẫn mới…”.

Theo ông Nguyễn Tiến Ðịnh, Phó Trưởng phòng Kinh tế hợp tác, Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển Nông thôn, bên cạnh việc kịp thời sửa đổi Luật HTX và các Nghị định, thông tư có liên quan để tạo thuận lợi cho HTX tiếp cận các nguồn vốn, Nhà nước cần hỗ trợ đầu tư các cơ sở hạ tầng cho HTX khi tham gia các chuỗi liên kết để hình thành tài sản của HTX. Qua đó, HTX có thể phát triển sản xuất kinh doanh và có tài sản để thế chấp khi vay vốn. Ðồng thời, khuyến khích các ngân hàng thương mại xây dựng các gói tín dụng cho HTX tham gia chuỗi gắn với xây dựng vùng nguyên liệu lớn. Khuyến khích doanh nghiệp trong chuỗi tham gia hỗ trợ tài chính, đầu tư giống, vật tư đầu vào cho HTX. Ðối với HTX cần mở rộng thành viên, hợp tác liên kết, sáp nhập các HTX trong chuỗi tạo thành quy mô thị trường nội bộ lớn.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Khánh Trung

Mobifone hỗ trợ hợp tác xã tăng cường ứng dụng số

Mobifone hỗ trợ hợp tác xã tăng cường ứng dụng số

Theo MobiFone Cần Thơ, ngoài khai thác thế mạnh trong lĩnh vực viễn thông, với mạng lưới rộng khắp cả nước, MobiFone đã và đang đẩy mạnh phát triển các giải pháp công nghệ số chính phủ và công nghệ số doanh nghiệp.

Tại TP Cần Thơ, MobiFone chiếm hơn 50% thị phần viễn thông. Cùng với thế mạnh về cơ sở hạ tầng viễn thông và năng lực công nghệ thông tin chất lượng cao, MobiFone đã và đang triển khai đa dạng các giải pháp số như truyền thanh thông minh, cảnh báo nhiễm mặn, nông nghiệp thông minh, hóa đơn điện tử, chữ ký số, tổng đài ảo, cáp quang internet chất lượng cao… Phần lơn các giải pháp số này đã và đang được ứng dụng phổ biến ở nhiều đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp tại TP Cần Thơ nói riêng và cả nước nói chung.

Song để hỗ trợ cho các tổ chức, các hợp tác xã… trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong công cuộc chuyển đổi số, MobiFone Cần Thơ và Liên minh Hợp tác xã TP Cần Thơ đã ký kết hợp tác ứng dụng các giải pháp công nghệ số và viễn thông. Đây là một trong những hoạt động thiết thực trong việc thúc đẩy khu vực kinh tế tập thể, mà nông cốt là hợp tác xã tăng cường ứng dụng số hóa vào các hoạt động sản xuất kinh doanh để bắt kịp xu thế số hóa trong tình hình mới.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Mỹ Hoa

Thành lập mới 9 HTX thương mại – dịch vụ

Thành lập mới 9 HTX thương mại - dịch vụ

Theo Liên minh hợp tác xã (HTX) TP Cần Thơ, từ năm 2019-2022, toàn thành phố có 9 HTX thương mại – dịch vụ được thành lập mới, nâng tổng số HTX thương mại – dịch vụ của thành phố lên 30 HTX, với tổng vốn điều lệ trên 211 tỉ đồng, có 385 thành viên và giải quyết việc cho hơn 556 lao động thường xuyên.

HTX nông sản xanh Cần Thơ giới thiệu các sản phẩm gạo sạch đến khách hàng tại một hội chợ tổ chức tại TP Cần Thơ.

Phần lớn các HTX thương mại – dịch vụ hoạt động ở các ngành, nghề, như xay xát, chế biến gạo, thu mua và cung cấp các sản phẩm nông sản an toàn… vừa góp phần giải quyết đầu ra sản phẩm cho các HTX sản xuất, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm an toàn của thị trường. Trong đó, có nhiều HTX hoạt động hiệu quả, nổi bật như HTX Thuận Phát (huyện Thới Lai), HTX nông sản xanh Cần Thơ (quận Thốt Nốt), HTX Sản xuất – Thương mại Nhất Tâm (quận Ninh Kiều), HTX Rau an toàn Long Tuyền (quận Bình Thủy)… đã thực hiện tốt từ việc liên kết sản xuất, đến tổ chức tiêu thụ các sản phẩm rau củ, quả, trái cây và các loại thủy sản an toàn, với doanh thu đạt từ 2 tỉ đồng đến trên dưới 100 tỉ đồng/năm, góp phần hình thành các chuỗi liên kết tiêu thụ nông sản an toàn giữa các HTX với doanh nghiệp trong và ngoài thành phố.

Hướng tới, Liên minh HTX thành phố phối hợp với các sở, ngành hữu quan thành phố và các địa phương tiếp tục hỗ trợ cho các HTX thương mại – dịch vụ tham gia các hội nghị, hội chợ xúc tiến thương mại để tìm kiếm các cơ hội mở rộng các dịch vụ cũng như thị trường tiêu thụ sản phẩm; đồng thời, liên kết với doanh nghiệp theo hướng gắn sản xuất với tiêu thụ,… từ đó góp phần gia tăng giá trị sản phẩm hàng hóa và thu nhập cho thành viên, nâng cao hiệu quả hoạt động cho HTX thương mại – dịch vụ trong bối cảnh mới.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Mỹ Hoa

Cần Thơ có 70% hợp tác xã hoạt động có hiệu quả

Cần Thơ có 70% hợp tác xã hoạt động có hiệu quả

Ngày 29-7, Liên minh hợp tác xã (HTX) TP Cần Thơ tổ chức hội nghị HTX điển hình tiên tiến TP Cần Thơ năm 2019-2022. Ông Nguyễn Xuân Hải, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND TP Cần Thơ; ông Nguyễn Ngọc Hè, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ; cùng lãnh đạo các ban, ngành và các HTX điển hình trên địa bàn thành phố tham dự hội nghị.

Ông Nguyễn Ngọc Hè, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, trao tặng bằng khen của Chủ tịch UBND TP Cần Thơ cho 4 HTX có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua năm 2021 của khối thi đua HTX thành phố.

Từ 2019-2022, khu vực kinh tế tập thể, HTX của thành phố phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do thiên tai và dịch bệnh gây ra, làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Song, nhiều tổ hợp tác, HTX đã linh động đổi mới phương thức quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh, ổn định hoạt động, mang lại hiệu quả kinh tế cho thành viên, đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Hiện thành phố có 1.452 tổ hợp tác và 300 HTX hoạt động đa dạng ở các ngành nghề, lĩnh vực, với tổng số vốn điều lệ hơn 710 tỉ đồng. Trong đó, có hơn 70% HTX hoạt động có lãi và đem lại hiệu quả thiết thực cho các thành viên; doanh thu HTX của toàn thành phố đạt 2.400 tỉ đồng/năm. Đặc biệt, ở lĩnh vực nông nghiệp đã xuất hiện nhiều mô hình HTX điển hình, như: HTX Khiết Tâm (huyện Vĩnh Thạnh), HTX dịch vụ nông nghiệp Hiệp Mỹ Phát (huyện Cờ Đỏ)… có quy mô diện tích sản xuất lớn từ 200-500 ha, có từ 50-100 thành viên, vốn điều lệ trên 1 tỉ đồng.

Hướng tới, thành phố tiếp tục vận động thành lập mới ít nhất 20 HTX/năm, phấn đấu đến năm 2025 có trên 340 HTX hoạt động, với hơn 17.000 thành viên; mỗi quận, huyện có từ 5-10 tổ hợp tác điển hình; thu hút trên 50% hộ nông dân tham gia kinh tế tập thể; xây dựng 30 mô hình HTX điển hình tiên tiến, có quy mô lớn và sức lan tỏa trong liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị hàng hóa, nông sản đặc trưng của các địa phương…

Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Ngọc Hè chỉ đạo các sở, ngành hữu quan thành phố và các quận, huyện tăng cường công tác hỗ trợ cho các HTX, tổ hợp tác tiếp cận và thụ hưởng được các chính sách hỗ trợ dành cho khu vực kinh tế tập thể; hỗ trợ HTX tiếp cận được các nguồn lực, nhất là các nguồn vốn vay ưu đãi, phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh…

Dịp này, thành phố có 1 HTX điển hình được tặng cờ thi đua của Chủ tịch UBND TP Cần Thơ vì có thành tích dẫn đầu trong phong trào thi đua năm 2021 của khối thi đua HTX thành phố; có 4 HTX được tặng bằng khen của Chủ tịch UBND TP Cần Thơ vì có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua năm 2021 của khối thi đua HTX thành phố; có 21 HTX, 2 quỹ tín dụng nhân dân và 4 tổ hợp tác được Liên minh HTX TP Cần Thơ công nhận danh hiệu điển hình tiên tiến năm 2019-2022.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Mỹ Hoa

Ký kết hợp tác giữa Liên minh Hợp tác xã thành phố Cần Thơ và Mobifone thành phố Cần Thơ

Ký kết hợp tác giữa Liên minh Hợp tác xã thành phố Cần Thơ và Mobifone thành phố Cần Thơ

Ngày 29/7/2022 Liên minh Hợp tác xã thành phố Cần Thơ và Mobifone Cần Thơ đã nhất trí cùng nhau hợp tác để cung cấp các giải pháp nhằm thúc đẩy việc thực hiện chuyển đổi số công nghệ và viễn thông dành cho các cá nhân, đơn vị HTX thành viên Liên minh Hợp tác xã thành phố Cần Thơ.

Hai bên thống nhất phối hợp thực hiện các chương trình nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số tại các đơn vị HTX thành viên Liên minh Hợp tác xã thành phố Cần Thơ; xây dựng các mô hình HTX hiện đại trong thời đại kỷ nguyên số 4.0.

Hội nghị các hợp tác xã điển hình tiên tiến thành phố Cần Thơ năm 2019 – 2022

Sứ mệnh phát triển kinh tế tập thể là giúp nông dân giàu mạnh

Sứ mệnh phát triển kinh tế tập thể là giúp nông dân giàu mạnh

GS. Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng danh dự Trường Đại học Nam Cần Thơ, là người gần như dành cả cuộc đời lặn lội đến từng cánh đồng ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long để tìm hiểu, trao đổi tư vấn cho người nông dân về trồng trọt, chăn nuôi.

Ông cho rằng, Nhà nước cần phải có chính sách hỗ trợ để phát triển hơn nữa khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã, làm sao để người nông dân thấy rằng mình cứ đơn độc, làm ăn nhỏ lẻ mà không vào hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác, không liên kết với nhau là thiệt thòi cho chính mình.

Thưa ông, có vẻ hơi ngược khi đề cập đến thế giới trước, nhưng rõ ràng việc tham khảo kinh nghiệm thế giới để phát triển mô hình kinh tế tập thể phù hợp với nước ta là rất quan trọng?

-Thực tế, để phát triển khu vực kinh tế tập thể, HTX, chúng ta chưa cần nhìn đâu xa xôi mà hãy nhìn vào các quốc gia trong khu vực châu Á, nhất là Nhật Bản và Hàn Quốc. Trong đó, tôi đánh giá mô hình HTX của Nhật Bản là điển hình thành công nhất.

Quay trở lại lịch sử để thấy rằng nước Nhật phải trải qua sự tàn phá khốc liệt của hai trái bom nguyên tử vào thời điểm năm 1945.

Tuy nhiên, chỉ trong vòng 15 năm sau, người nông dân Nhật Bản đã cho cả thế giới thấy sức sống trở lại của sản phẩm Nhật, sự vươn lên đáng nể phục của người Nhật. Từ chỗ nông dân không có của cải gì hết, họ bắt đầu làm giàu, tích luỹ được tài sản. Và Luật HTX của Nhật Bản cứ thay đổi theo trình độ kinh tế của người nông dân, thành viên HTX. Đến năm 2019, theo hồ sơ lưu trữ tại Thư viện Quốc hội Nhật Bản, đã có tất cả 105 lần sửa đổi các điều khoản trong Luật HTX Nông nghiệp năm 1947 (http://hourei.ndl.go.jp/).

Trong những năm đầu tiên mới thành lập HTX nông nghiệp, Chính phủ Nhật Bản xem HTX là một công cụ mà Nhà nước sử dụng để giúp cho người nông dân nghèo sớm làm giàu, cũng như thoát nghèo một cách nhanh chóng. Trong Luật không đòi hỏi nông dân phải đóng tiền hùn vốn, chỉ góp sức lực của họ để phát triển sản xuất nông nghiệp theo định hướng của Chính phủ. Các cấu trúc hạ tầng và vật liệu đầu vào phần lớn do Nhà nước tài trợ cho HTX.

Kết quả, người nông dân Nhật Bản khi đọc văn bản Luật HTX thì thấy rằng cái gì cũng được Nhà nước giúp, mình không vào HTX là thiệt thòi. Đơn cử, vào HTX được Nhà nước quy hoạch vùng trồng, hỗ trợ vật tư xây dựng hệ thống thủy lợi, xây dựng nhà màng, nhà lưới, máy móc để chế biến sâu, đồng thời tư vấn, xúc tiến về thị trường đầu ra.

Tham gia HTX, nông dân Nhật Bản không còn phải lo lắng quá nhiều về đầu ra mà chỉ miệt mài, cố gắng sản xuất theo hướng dẫn của cơ quan nông nghiệp trong vùng, học hỏi thêm kinh nghiệm để làm ra những sản phẩm có chất lượng, mẫu mã tốt. Việc sản xuất theo đúng kế hoạch của Nhà nước đã giúp sản xuất nông nghiệp của Nhật phát triển quy mô lớn, không phải phát triển tự phát theo phong trào.

Vậy còn Hàn Quốc – cường quốc về kinh tế công nghiệp nhưng nếu có dịp ghé tới các vùng nông thôn ở quốc gia này, chúng ta không khỏi bất ngờ khi thấy những biển ngữ, khẩu hiệu mang tên “hợp tác” gắn liền với phát triển HTX?

-Sau thành công của Nhật Bản, Hàn Quốc cũng có chính sách Saemaul Undong, tương tự như thế về cách hỗ trợ cho khu vực HTX.

Tôi còn nhớ trong giai đoạn đương nhiệm, nguyên Tổng thống Park Chung-hee của Hàn Quốc đã có chính sách Seamoul Undong rất độc đáo là giao cho mỗi xã khoảng 355 bao (khoảng 20 tấn) xi măng, sau đó các xã được tự quyết định xem nên làm gì với khối lượng này, họ có thể làm đường nước phục vụ tưới tiêu, làm đường ở vùng sản xuất, hoặc nếu không có thể bán xi măng để lấy tiền đầu tư vào các hạ tầng còn thiếu ở vùng nông thôn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp…

Sang năm kế, xã nào làm tốt lại được thêm 25 tấn xi măng và 1 tấn thép. Đây chính là củng cố, xây dựng hạ tầng nông thôn để mỗi HTX đều phát huy được tối đa năng lực của mình trong phát triển kinh tế kinh tế nông nghiệp.

Quay trở lại Việt Nam, ông đánh giá thế nào về phát triển HTX nông nghiệp trong thời gian qua?

-Thời gian qua, nông sản Việt Nam đã được xuất khẩu tới hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, mỗi năm kim ngạch xuất khẩu đều phá kỷ lục cũ, năm nay dự kiến vượt 50 tỷ USD. Chúng ta cũng đón nhận những thông tin tích cực khi giá 1 tấn gạo thơm của Việt Nam có thể bán được hơn 1.000 USD/tấn ở thị trường châu Âu, 1kg vải thiều giá trên 500.000 đồng… Trong bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới đối mặt khủng hoảng lương thực, đứt gãy nguồn cung bởi ảnh hưởng của dịch COVID-19 hay chiến tranh, nông nghiệp Việt Nam đã làm tốt vai trò đảm bảo cung ứng thực phẩm cho người dân trong nước cũng như tận dụng thời cơ xuất khẩu.

Những thành công của ngành nông nghiệp thể hiện rõ vai trò của khu vực kinh tế tập thể, HTX. HTX giúp người nông dân sản xuất theo quy trình VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ… HTX giúp cho nông nghiệp Việt Nam giảm dần tình trạng manh mún, nhỏ lẻ chuyển sang làm ăn quy mô lớn, chung sức hợp lực… Nhiều người nông dân đã trở thành triệu phú, tỷ phú trên chính mảnh ruộng cha ông để lại nhờ cách làm mới, từ cây trồng thế mạnh của địa phương mình.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn nhận rằng, phần lớn nông dân Việt Nam vẫn còn nghèo, vì tư duy sản xuất nhỏ lẻ, theo phong trào, không theo quy trình sản xuất hiện đại, sản xuất hàng hóa bán cho thương lái lúc được, lúc không. Hàng nghìn container trái cây xếp hàng dài chờ thông quan xuất tiểu ngạch sang Trung Quốc, nhiều loại trái cây, nông sản đến vụ thu hoạch vẫn phải đổ bỏ, người nông dân đau lòng khi phải chặt bỏ đi chính cây trồng của mình…

Bởi vậy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII đã ban hành Nghị quyết 20 về đổi mới và phát triển kinh tế tập thể? Ông có kỳ vọng gì sau khi Nghị quyết ra đời?

-Tôi đánh giá Nghị quyết 20 đã đưa ra được những định hướng phát triển và đổi mới cho khu vực kinh tế tập thể, HTX trong thời gian tới, bắt kịp với xu hướng phát triển của thế giới. Chúng ta có HTX nông nghiệp kiểu mới thì cũng cần phải có nông dân kiểu mới. Điều này sẽ đảm bảo doanh nghiệp (DN) liên kết có nguyên liệu nông sản đạt chuẩn quốc tế.

Việc ban hành Nghị quyết 20 cùng với việc nghiên cứu sửa đổi Luật HTX 2012 chắc chắn sẽ tạo thêm lực đẩy để khu vực kinh tế tập thể, HTX phát triển năng động, hiệu quả hơn trong thời gian tới. Từ đó, khu vực kinh tế tập thể sẽ thu hút thêm nhiều nông dân, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức tham gia, góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của các thành viên, hộ gia đình.

Vấn đề còn lại là nhanh chóng đưa sự đổi mới, quan điểm phát triển từ Nghị quyết vào cuộc sống?

-Đúng vậy, từ Nghị quyết chuyển sang hành động cụ thể, nhất là khi đối tượng là nông dân nghèo thì việc phát triển khu vực kinh tế tập thể, HTX không thể thiếu vai trò đòn bẩy từ những chỉ thị triển khai đi kèm với chính sách hỗ trợ thật cụ thể của Nhà nước.

Từ kinh nghiệm của Nhật Bản hay Hàn Quốc, tôi muốn nhấn mạnh quan điểm rằng hiện nay, phần lớn nông dân ta chưa tích lũy vốn được vốn sản xuất, nên đầu vụ phải vay vốn hoặc ghi nợ với các cửa hàng vật tư chờ đến thu hoạch phải gấp rút bán sản phẩm bằng mọi giá để có tiền trả nợ. Do đó, khi bảo họ gia nhập HTX mà phải góp vốn thì họ không thể nhiệt tình tham gia.

Vì vậy, Luật HTX 2012 sửa đổi, cũng như những chính sách về phát triển kinh tế tập thể, HTX của chúng ta nên có điều khoản bước đầu Nhà nước có chính sách tài trợ cho HTX để khuyến khích nông dân hăng hái tham gia vào HTX, tổ hợp tác. Trong đó, khuyến khích đầu tiên là giúp vốn vay ưu đãi xây dựng hạ tầng và vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ về xúc tiến thị trường, chuyển đổi cây trồng…

Nhà nước cần phải xem HTX là công cụ để Nhà nước giúp người nông dân thoát nghèo, bằng cách hướng cho nông dân sản xuất cây trồng, vật nuôi… với quy trình kỹ thuật tiên tiến, phát triển nông nghiệp xanh không phát thải khí nhà kính, liên kết với DN có đầu ra chắc chắn.

Như vậy, mỗi người nông dân sẽ thấy rằng không vào HTX sẽ là thiệt thòi lớn cho mình. Và như thế chúng ta cũng đừng xem HTX, trong giai đoạn ban đầu thành lập, như công ty cổ phần mà đòi mỗi thành viên viên phải hùn vốn. Người có vốn để hùn thì đã có Luật DN rồi. Nếu ngày nào Nhà nước còn coi HTX như một công ty, ngày đó người nông dân nghèo vẫn không tha thiết tham gia.

 

Sự tha thiết tham gia của HTX không chỉ là những ông bà hay bố mẹ, vốn là những người nông dân?

-Tôi cho rằng câu hỏi này rất thú vị và tôi cũng kỳ vọng Nghị quyết 20 mà Ban Chấp hành Trung ương ban hành mới đây sẽ tạo thêm làn gió mới về phong trào khởi nghiệp của những thanh niên tri thức về quê làm nông nghiệp.

Tại sao sinh viên đại học có trình độ quản trị kinh doanh, kỹ sư nông nghiệp… lại không quay trở về quê hương mà cố gắng bám trụ ở thành phố để làm việc trong công ty này, công ty kia mà không phải là HTX quê mình. Tại sao những bác nông dân, vốn am hiểu về sản xuất nhưng do không có người quản lý nên phải kiêm nhiệm những việc mà mình không chuyên, phải đi quản lý, làm kế toán, sổ sách, đàm phán hợp đồng… Điều này sẽ được giải quyết nếu những người trẻ – không đâu xa chính là con của các bác nông dân, sau khi hoàn thành chương trình cao đẳng, đại học ở thành phố muốn quay về quê để vào HTX.

Để đẩy mạnh hơn nữa phong trào này, chúng ta cũng cần đẩy mạnh hoạt động startup trong khu vực kinh tế tập thể, HTX. Những thanh niên đam mê khởi nghiệp nông nghiệp có thể xây dựng các dự án kêu gọi dòng vốn đầu tư, chắc chắn Nhà nước có thể hỗ trợ họ về điều này. Khi đó, những thanh niên khởi nghiệp trong khu vực kinh tế tập thể, HTX cũng có điều kiện thi thố tài năng, cống hiến cho quê hương, đất nước và thay đổi tư duy về phát triển kinh tế tập thể.

HTX giàu mạnh thì đất nước sẽ giàu mạnh. Tôi muốn nhấn mạnh tới tinh thần hợp tác. Hợp tác sẽ tạo thành sức mạnh, không hợp tác chỉ mạnh ai nấy làm thì nông nghiệp mãi manh mún, nhỏ lẻ, khó cạnh tranh với các nước trên thế giới. Hợp tác cũng giúp nền nông nghiệp Việt Nam sản xuất xanh, sạch và giảm khí thải nhà kính.

Xin cảm ơn ông!

vca.org.vn

Lễ ra mắt Hợp tác xã Tâm Chiến – Huyện Cờ Đỏ

Ðổi mới tư duy trong xây dựng và quản lý mã số vùng trồng

Ðổi mới tư duy trong xây dựng và quản lý mã số vùng trồng

Hiện nay, các loại trái cây tươi khi muốn đưa vào bán tại nhiều siêu thị trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài phải đạt theo các tiêu chuẩn chất lượng, an toàn và có mã số vùng trồng để truy xuất được nguồn gốc. Ngành chức năng tại các địa phương cùng nông dân, doanh nghiêp cần kịp thời đổi mới trong tư duy và hành động để thực hiện tốt việc xây dựng và quản lý mã số vùng trồng cho cây ăn trái và các loại cây trồng nói chung, góp phần ổn định và tạo thuận lợi đầu ra cho sản phẩm.

Nhờ quan tâm liên kết sản xuất theo VietGAP và xây dựng mã số vùng trồng, sản phẩm trái cây của Hợp tác xã Vườn cây ăn trái Trường Khương A, ở huyện Phong Ðiền, TP Cần Thơ đã được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.

Thị trường yêu cầu cao

Nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc… đã có quy định bắt buộc trái cây tươi từ các nước khác muốn xuất khẩu vào nước họ phải được cấp mã số vùng trồng (mã code) và mã số cơ sở đóng gói. Ðặc biệt, một số thị trường xuất khẩu trái cây vốn trước đây được xem là “dễ tính” như thị trường Trung Quốc cũng đã đặt ra yêu cầu trên. Từ năm 2019, Trung Quốc đã đặt ra yêu cầu trái cây xuất khẩu chính ngạch phải có mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Hiện nay, trái cây và nhiều loại nông sản của nông dân khi muốn đưa vào bán tại siêu thị và nhiều kênh bán hàng hiện đại khác như trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, sàn thương mại điện tử… cũng đòi hỏi sản phẩm an toàn, đạt các tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (như VietGAP, Global GAP…) và có mã để truy xuất nguồn gốc.

Thời gian qua, Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) và các địa phương đã nỗ lực tìm mọi cách để cấp được các mã số vùng trồng cho cây ăn trái phục vụ xuất khẩu theo yêu cầu của các thị trường mục tiêu và chuẩn bị cho mở cửa thêm thị trường xuất khẩu mới, cũng như tiêu thụ tại nội địa. Song, do còn gặp nhiều khó khăn nên số diện tích cây ăn trái được cấp mã số vùng trồng vẫn còn ít so với diện tích chung, nhất là khi cả nước hiện có hơn 1,1 triệu héc-ta cây ăn trái.

Theo Cục Trồng trọt thuộc Bộ NN&PTNT, đến nay cả nước đã có 50/63 tỉnh, thành được cấp tổng cộng 4.000 mã số vùng trồng cho các loại cây ăn trái, với tổng diện tích 300.000ha. Các mã số vùng trồng trên được cấp cho các loại cây ăn trái như chuối, thanh long, mít, nhãn, vải, xoài, chôm chôm, măng cụt, chanh leo, dưa hấu… Hiện các địa phương vùng ÐBSCL đã được cấp 1.561 mã số vùng trồng cho cây ăn trái, chiếm tỷ lệ hơn 39%; vùng Ðông Nam Bộ có 224 mã số vùng trồng cây ăn trái, chiếm tỷ lệ 5,6%; Tây Nguyên có 168 mã số vùng trồng, chiếm tỷ lệ 4,2%… Các đơn vị, doanh nghiệp trong cả nước cũng đã được cấp 1.864 mã số cơ sở đóng gói cho các loại quả tươi được phép xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand. Trong đó, vùng ÐBSCL được cấp 923 mã cơ sở đóng gói, chiếm tỷ lệ 50%.

Nâng cao nhận thức và hành động

Nông dân và doanh nghiệp còn thiếu các thông tin, kiến thức và quy trình đăng ký xây dựng mã số vùng trồng… dẫn đến lúng túng trong thực hiện. Mặt khác, thời gian qua cũng  xảy ra trường hợp mã số vùng trồng tại một số nơi chưa được quản lý chặt chẽ, dẫn đến có trường hợp vi phạm trong khai thác, sử dụng mã số vùng trồng. Ðơn cử như việc sử dụng mã số vùng trồng của khu vực này nhưng lại lấy sản phẩm trái cây của khu vực khác để đưa đi tiêu thụ. Do vậy, tới đây các cấp chính quyền, nhất là ngành chức năng tại địa phương cần quan tâm tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp trong xây dựng mã số vùng trồng. Ðồng thời, cần đổi mới và nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời chấn chỉnh, phòng ngừa các trường hợp vi phạm để bảo vệ uy tín, thương hiệu của trái cây Việt Nam. Cần xác định công tác xây dựng và quản lý mã số vùng trồng không phải là công việc riêng của nông dân hay doanh nghiệp mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó chính quyền tại địa phương nắm giữ vai trò rất quan trọng.

Theo ông Lê Văn Thiệt, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ Thực vật thuộc Bộ NN&PTNT, trước đây Bộ giao cho Cục Bảo vệ Thực vật cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Còn hiện nay, Bộ NN&PTNT đã phân cấp về cho Chi Cục trồng trọt và Bảo vệ thực vật tại các địa phương quản lý và cấp mã số vùng trồng nhằm tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Bộ cũng chỉ đạo Cục Bảo vệ Thực vật tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn tại địa phương và ban hành các tiêu chuẩn cơ sở (TCCS), văn bản hướng dẫn cụ thể. Theo đó, Cục Bảo vệ Thực vật đã ban hành TCCS 774 về quy định thiết lập và giám sát vùng trồng và TCCS 775 về quy trình thiết lập và giám sát cơ sở đóng gói.

Ðể thiết lập được mã số vùng trồng, nông dân cần nắm rõ các quy định về diện tích cây ăn quả tối thiểu là 10ha. Ðồng thời, sử dụng thống nhất một quy trình sản xuất và quản lý sinh vật gây hại theo yêu cầu kiểm dịch thực vật của các nước nhập khẩu và nhà tiêu thụ. Kiểm soát vi sinh vật gây hại ở mức độ phổ biến thấp và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo quy định của các nước nhập khẩu. Có nhật ký canh tác ghi chép chi tiết các hoạt động tác động lên cây trồng và áp dụng thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong trồng trọt.

Theo ông Lê Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt, hiện nhiều nông dân, thậm chí có hợp tác xã còn ngại thực hiện và chưa đảm bảo sản xuất đầy đủ theo các tiêu chí trên, nhất là ghi nhật ký canh tác và áp dụng cùng một quy trình sản xuất, từ đó khó cho việc cấp mã số vùng trồng. Ðể không tạo khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu, vấn đề xây dựng mã số vùng trồng cần phải được nhận thức một cách mạnh mẽ hơn và rất mong các cơ quan truyền thông, chính quyền tại địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân thực hiện.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Khánh Trung

Tiếp tục bảo tồn và phát triển chợ nổi Cái Răng

Tiếp tục bảo tồn và phát triển chợ nổi Cái Răng

Ngay sau khi Văn hóa chợ nổi Cái Răng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể vào năm 2016, Ðề án Bảo tồn và Phát triển chợ nổi Cái Răng (đề án) được UBND TP Cần Thơ phê duyệt. Qua 5 năm, đề án đã được thực hiện tốt phần gìn giữ bảo tồn, còn nội dung phát triển vẫn cần được cân nhắc kỹ. Ðó là những vấn đề được nêu tại hội nghị tổng kết 5 năm kết quả thực hiện đề án, trong khuôn khổ Ngày hội Du lịch Văn hóa chợ nổi Cái Răng diễn ra từ ngày 9 đến 11-7.

Ðề án được UBND thành phố phê duyệt năm 2016 với 13 hạng mục chính, kinh phí thực hiện một phần từ ngân sách, phần lớn từ xã hội hóa. Qua 5 năm, hầu hết hạng mục gần như hoàn thành, chỉ còn cầu tàu, trạm dừng chân, nhà hàng nổi trên sông vẫn chưa thực hiện vì còn vướng chính sách và kinh phí.

Du khách tham quan chợ nổi Cái Răng.

Công tác được chú trọng nhất trong thời gian qua là an sinh xã hội. UBND quận Cái Răng đã xây dựng nhiều chính sách và hoạt động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần người dân chợ nổi. Quận đã tạo điều kiện để 170 hộ tiếp cận vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội để phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch, mua bán cung cấp nông sản; tổng kinh phí hơn 8 tỉ 250 triệu đồng. Từ đó, sản phẩm, dịch vụ trên chợ nổi dần đa dạng, như có thêm 6 quầy hàng nổi trên sông (floating shop) bán trái cây, ẩm thực; 3 hộ đầu tư du thuyền bán quà lưu niệm, đặc sản địa phương. Ðịa phương còn tổ chức nhiều lớp kỹ năng hỗ trợ tiểu thương như các lớp nghiệp vụ về du lịch, tiếng Anh cho thương hồ… Mỗi năm UBND quận Cái Răng phối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố, các doanh nghiệp trao hơn 2.000 phần quà, trị giá trên 700 triệu đồng, cho người dân chợ nổi. Các hoạt động gìn giữ, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh trật tự… được quan tâm: tổ chức thu gom rác trên sông, xây nhà vệ sinh công cộng, cải tạo hệ thống điện trên sông, bố trí phao phân luồng đảm bảo an toàn giao thông đường thủy.

Kết quả, lượng khách đến chợ nổi Cái Răng tăng bình quân từ 12-15% mỗi năm. Sản lượng hàng hóa, nông sản tiêu thụ tại chợ nổi ổn định, với bình quân từ 250-300 ghe tàu mua bán, 8 điểm thu mua nông sản, tiêu thụ, giai đoạn cao điểm từ 1.000-2.000 tấn nông sản/tháng. Các dịch vụ ăn uống, bán quà lưu niệm, đưa đón du khách ngày càng phát triển.

Tuy nhiên, đề án cũng còn gặp nhiều khó khăn: chất lượng sản phẩm, dịch vụ chưa đảm bảo; tiểu thương vẫn còn cạnh tranh không lành mạnh; rác vẫn còn; sản phẩm và trải nghiệm trên chợ nổi đơn điệu; nhiều hạng mục của đề án chậm tiến độ và không khả thi; kè sông ảnh hưởng đến bảo tồn chợ nổi… Ông Nguyễn Khánh Tùng, Viện trưởng Viện Kinh tế – Xã hội thành phố, đặt vấn đề: “Chủ yếu khách di chuyển từ Bến Ninh Kiều hoặc do các doanh nghiệp đưa đến chợ nổi. UBND Cái Răng chưa thể nắm chính xác lưu lượng, dòng khách, cũng chưa có hoạt động thu phí; nhưng phải giải quyết nhiều vấn đề hoạt động du lịch trên chợ nổi. Ðiều này cho thấy, chưa phân rõ trách nhiệm quản lý và xử lý các vi phạm về đơn vị, bộ phận cụ thể. Một e ngại khác là Dự án Kè sông Cần Thơ sẽ gây ảnh hưởng đến thương hồ trên chợ nổi, địa phương cũng nên cân nhắc khi di dời các hộ dân bị ảnh hưởng”.

Ðồng thời, đề án gặp khó về việc kêu gọi đầu tư do vướng nhiều chính sách, không có kinh phí đầu tư. Ông Vương Công Khanh, Phó Chủ tịch HÐND quận Cái Răng, cho biết: “Khách đến chợ nổi Cái Răng nhiều hơn trước, điều này vừa đáng mừng lại vừa đáng lo. Thực tế, tàu du lịch nhiều hơn cả ghe tàu của thương hồ, tiểu thương trên chợ nổi. Sự phát triển không cân bằng này tạo nên nhiều hệ lụy, đó là cạnh tranh không lành mạnh, chất lượng các sản phẩm dịch vụ không đảm bảo. Cái khó của địa phương là khâu quản lý còn chưa rõ ràng, chồng chéo. Việc kêu gọi đầu tư cũng gặp khó khăn vì vướng cơ chế nên một số hạng mục vẫn chậm”.

Ông Nguyễn Anh Dũng, Chủ tịch Hợp tác xã Thương mại dịch vụ và du lịch Ðiểm Hẹn, có kinh doanh trên chợ nổi Cái Răng, chia sẻ: “Du khách đến chợ nổi nhiều hơn trước gấp mấy lần. Vào cuối tuần có khoảng 700-800 khách. Do đó, tôi cũng đề xuất giải phóng mặt bằng, hoàn thành xây dựng bờ kè, xây dựng các bến bãi hoặc nhà nghỉ gần điểm du lịch chợ nổi, từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch”.

Ðề án đã làm tốt khâu bảo tồn chợ nổi. Tuy nhiên lo ngại phát triển đường bộ làm hạn chế hoạt động đường thủy vẫn được địa phương phải cân nhắc, vì sẽ dễ làm người dân bỏ chợ, trong khi yếu tố con người quan trọng nhất trong bảo tồn chợ nổi. Trước thực trạng này, ông Nguyễn Thực Hiện, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, chỉ đạo UBND Cái Răng cần xác định và tập trung vào 3 mục tiêu chính trong thời gian tới: bảo tồn di sản chợ nổi Cái Răng, làm sao để người dân bám chợ, tạo trung tâm kết nối mua bán nông sản thu hút du khách. Ðể làm được những điều này, UBND Cái Răng cần phải khảo sát, đánh giá thực trạng lần nữa và nghiên cứu giải pháp phù hợp. Từ đó tổ chức hội nghị chuyên sâu với các chuyên gia và các bên có liên quan để xây dựng đề án mới, nhằm giải quyết khâu quản lý, kêu gọi đầu tư, gìn giữ môi trường, tính liên kết vùng của chợ nổi ở ÐBSCL, các chính sách an sinh về vật chất và tinh thần cho người dân chợ nổi.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Ái Lam