Khác

Liên kết, tăng giá trị chuỗi ngành hàng lúa gạo

Liên kết, tăng giá trị chuỗi ngành hàng lúa gạo

Ðể nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh lúa gạo, các bộ ngành Trung ương, địa phương vùng ÐBSCL đã và đang tích cực hỗ trợ nông dân liên kết, đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Khuyến khích người dân sản xuất lúa gạo ngon, chất lượng cao để bán được giá cao và mở rộng xuất khẩu vào các thị trường khó tính.

Thu hoạch lúa trong mô hình cánh đồng lớn ở xã Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ.

Nhiều tiến bộ

Dù diện tích sản xuất lúa tại vùng ÐBSCL đã giảm đáng kể so với trước đây, nhưng vùng vẫn đang duy trì được một sản lượng lúa rất lớn nhờ đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và phát triển sản xuất các giống lúa mới, giúp năng suất đạt cao. Hiện lúa gạo phục vụ xuất khẩu tại vùng ÐBSCL cũng có giá bán được nâng cao nhờ sự chuyển dịch mạnh sang sản xuất các loại lúa gạo thơm ngon, đặc sản, chất lượng cao.

Theo Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), so với năm 2015, diện tích sản xuất lúa tại ÐBSCL từ mức hơn 4,3 triệu héc-ta nay đã giảm xuống còn 3,814 triệu héc-ta. Tuy nhiên, năng suất lúa bình quân từ mức 59,65 tạ/ha đã tăng lên ở mức hơn 62 tạ/ha. Dù diện tích sản xuất lúa bị giảm đáng kể so với trước nhưng hiện hằng năm vùng ÐBSCL vẫn đạt được sản lượng lúa khá cao, với trên dưới 24 triệu tấn/năm, trong khi vào thời điểm năm 2015 ở mức khoảng 25,7 triệu tấn/năm. Sản xuất lúa gạo tại vùng ÐBSCL đang tiếp tục đóng góp phần lớn lượng lúa gạo phục vụ xuất khẩu của nước ta, cũng như đảm bảo tiêu dùng trong nước. Ông Nguyễn Văn Ðoan, Trưởng Văn phòng đại diện Cục Trồng trọt tại TPHCM, cho biết: “Diện tích sản xuất lúa tại vùng ÐBSCL giảm so với trước do các diện tích sản xuất lúa kém hiệu quả và nhiều diện tích ảnh hưởng nặng bởi hạn mặn được nông dân chuyển đổi sang các loại cây trồng vật nuôi khác hiệu quả hơn, nhất là trồng cây ăn trái và nuôi thủy sản. Cơ cấu giống cũng chuyển đổi mạnh theo hướng nâng cao chất lượng gắn với nhu cầu thị trường. Tỷ lệ sản xuất các loại lúa gạo thơm ngon và đặc sản được nâng lên trên 30%, gạo chất lượng cao đạt tỷ lệ 45-46% trên tổng diện tích, còn việc sản xuất các giống lúa cho chất lượng gạo trung bình (như 50404) chỉ còn chiếm diện tích nhỏ và có xu hướng còn giảm”. Theo ông Nguyễn Văn Ðoan, qua kết quả xuất khẩu gạo cho thấy, giá xuất khẩu gạo càng ngày càng được nâng cao. Nếu giai đoạn 2010-2015, giá ở mức 300-350 USD/tấn, thì nay đạt gần 500 USD/tấn. Qua 10 tháng năm 2022, nước ta xuất khẩu gạo đạt 6,1 triệu tấn, với giá trị gần 3 tỉ USD. Dự báo xuất khẩu gạo cả năm nay có thể vượt trên 6,7-6,8 triệu tấn, với giá trị đạt 3,4-3,5 tỉ USD.

Gỡ khó phát triển chuỗi liên kết

Hiện nay, nông dân tại nhiều tỉnh, thành vùng ÐBSCL cũng tăng cường liên kết, phát triển sản xuất lúa gạo theo hướng chất lượng cao và an toàn, tạo thuận lợi trong kết nối với các doanh nghiệp tiêu thụ. Qua đó, hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm giúp nâng cao chuỗi giá trị ngành hàng và thúc đẩy sản xuất kinh doanh lúa gạo ngày càng hiệu quả, bền vững. Tuy nhiên, nhìn chung việc phát triển sản xuất, tiêu thụ lúa gạo theo chuỗi tại vùng ÐBSCL vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cần được ngành chức năng quan tâm hỗ trợ tháo gỡ kịp thời. Ðáng chú ý, tỷ lệ tiêu thụ lúa của nông dân thông qua thương lái còn cao, trong khi qua hợp đồng bao tiêu của doanh nghiệp còn ít. Tình trạng phá vỡ hợp đồng trong liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo còn thường xuyên xảy ra. Nông dân tại nhiều nơi còn sử dụng nhiều loại giống trên cùng một vùng sản xuất, thiếu phương tiện phơi sấy và tồn trữ lúa ở cấp nông hộ. Công nghệ xay xát, chế biến gạo ở một số đơn vị, doanh nghiệp còn lạc hậu. Còn thiếu thương hiệu gạo Việt mạnh ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu…

Theo ông Phan Minh Thông, Giám đốc Trung tâm Phát triển Bền vững Nông nghiệp Nông thôn, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, để nâng cao giá trị chuỗi lúa gạo vùng ÐBSCL, tới đây ngành chức năng cần quan tâm, có thêm cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất lúa chất lượng cao. Tăng cường công tác định hướng về thị trường xuất khẩu lúa gạo hằng năm, nhất là về cơ cấu giống lúa để các địa phương có hướng chỉ đạo sản xuất đạt hiệu quả, đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp xuất khẩu. Tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành vùng ÐBSCL. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu lúa gạo chất lượng cao, liên kết hỗ trợ nông dân từ vốn, giống, hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm với phương thức phù hợp trên nguyên tắc cùng có lợi. Quan tâm chế biến sâu và chế biến phụ phẩm từ cây lúa, hạt gạo để nâng cao giá trị gia tăng.

Kết nối cung cầu, thúc đẩy sản xuất tiêu thụ lúa gạo theo chuỗi tại vùng ÐBSCL, Tổ Ðiều hành Diễn đàn thông tin kết nối sản xuất và tiêu thụ nông sản của Bộ NN&PTNT vừa tổ chức “Diễn đàn trực tuyến kết nối cung cầu chuỗi lúa gạo vùng ÐBSCL”. Tại diễn đàn này, nhiều đại biểu cho rằng, để nâng cao chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, cần đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ và thúc đẩy liên kết giữa nông dân với nhau và với doanh nghiệp theo hướng hài hòa lợi ích giữa các bên, với sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan quản lý nhà nước. Ðồng thời, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới và thực hiện chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh lúa gạo và tăng cường khả năng kết nối với nhau. Theo ông Trương Kiến Thọ, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh An Giang, việc liên kết trong sản xuất, tiêu thụ lúa giữa nông dân và doanh nghiệp còn gặp khó, nhất là trong thỏa thuận giá cả, thời điểm thu mua lúa và thanh toán tiền. Ngành chức năng cần quan tâm có thêm cơ chế, chính sách và biện pháp hỗ trợ kịp thời. Ðồng thời, cần đẩy mạnh chuyển đổi số, áp dụng thanh toán tiền mua lúa qua ngân hàng số nhằm giúp doanh nghiệp và nông dân thoát khỏi các khó khăn, vướng mắc khi cần phải thanh toán tiền lúa bằng một lượng tiền mặt quá lớn.

Theo ông Trần Thái Nghiêm, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, để tạo thuận lợi cho nông dân và doanh nghiệp thỏa thuận giá mua bán lúa, Bộ NN&PTNT và Bộ Công Thương cần quan tâm xác định và công bố giá lúa tươi, lúa khô hằng tuần trong thời điểm vào các vụ thu hoạch lúa để người dân nắm. Tránh tình trạng có một số thương lái mua lúa gạo với số lượng rất ít nhưng cố tình nâng giá lên cao tại một số thời điểm, gây nhiễu loạn thị trường và phá vỡ sự liên kết giữa nông dân và
doanh nghiệp.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Khánh Trung

Hỗ trợ nông dân sử dụng rơm rạ làm phân bón hữu cơ

Hỗ trợ nông dân sử dụng rơm rạ làm phân bón hữu cơ

Với sự hỗ trợ của ngành Nông nghiệp TP Cần Thơ cùng các ngành chức năng, nông dân thành phố đã nhân rộng và phát triển ngày càng nhiều mô hình nông nghiệp tuần hoàn. Ðáng chú ý, việc sử dụng rơm rạ và các phụ phẩm trong nông nghiệp để làm phân bón hữu cơ phục vụ lại cho trồng lúa, các loại cây trồng đang được nông dân thực hiện. Giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa góp phần tránh tình trạng ô nhiễm môi trường do người dân đốt bỏ rơm rạ trên đồng…

Áp dụng cơ giới hóa để sản xuất phân bón hữu cơ từ rơm rạ tại quận Thốt Nốt.

Hình thành sản phẩm

Hiện nay, Tổ hợp tác Nông trại xanh (tên tiếng Anh là New Green Farm) ở khu vực Tân phước, phường Tân Hưng, quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ đã sử dụng rơm rạ kết hợp cùng các phế phụ phẩm khác trong trồng trọt và chăn nuôi để làm ra sản phẩm phân bón hữu cơ. Sản phẩm này không chỉ có thể phục vụ cho sản xuất lúa mà còn rất tốt cho nhiều loại cây trồng khác như rau màu và cây ăn trái. Tổ hợp tác New Green Farm cũng đã đóng gói sản phẩm thành dạng bao 20kg và gói 2,5kg với thương hiệu, địa chỉ nơi sản xuất rõ ràng để cung ứng ra thị trường phục vụ nông dân. Sản phẩm đang được bán lẻ ở mức 80.000 đồng/bao và khoảng 12.000 đồng/gói.

Anh Ðồng Văn Cảnh, Tổ trưởng Tổ hợp tác Nông trại xanh ở khu vực Tân phước, phường Tân Hưng, quận Thốt Nốt, phấn khởi, cho biết: “Thành công trong sản xuất phân bón hữu cơ từ rơm rạ của chúng tôi là nhờ hỗ trợ, hướng dẫn quy trình sản xuất từ Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật TP Cần Thơ, Viện Nghiên cứu lúa gạo Quốc tế (IRRI), Trường Ðại học Nông Lâm (TP Hồ Chí Minh) và các đơn vị có liên quan. Phân bón hữu cơ của Tổ hợp tác đã được nhiều nông dân đánh giá cao về chất lượng, dinh dưỡng cao do có sự kết hợp nhiều loại phụ phẩm như rơm rạ, tro trấu, mụn dừa, phân bò… Các nguồn nguyên liệu này đều được chúng tôi thu mua tại Cần Thơ và các tỉnh vùng ÐBSCL nên cũng giúp nông dân trong vùng có thu nhập tăng thêm từ phế phụ phẩm và góp phần bảo vệ môi trường”. Theo anh Cảnh, với điều kiện mặt bằng rộng khoảng 450m2 và quy trình sản xuất trải qua nhiều công đoạn ủ trộn kéo dài trong khoảng 45 ngày, Tổ hợp tác sẽ cho ra đời một mẻ phân bón hữu cơ với sản lượng khoảng 18 tấn. Ðể đạt được lượng phân thành phẩm đó, cần sử dụng các nguyên liệu sản xuất đầu vào gồm có khoảng 15 tấn rơm, 6,5 tấn mụn dừa, 3 tấn phân bò, 3 tấn tro trấu… Tới đây, Tổ hợp tác dự kiến sẽ mở rộng quy mô để nâng cao sản lượng nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều khách hàng.

Những năm qua, ngành Nông nghiệp TP Cần Thơ tích cực hỗ trợ nông dân đẩy mạnh cơ giới hóa khâu thu gom rơm, tập huấn cho nông dân về cách xử lý rơm rạ để làm phân bón hữu cơ, sử dụng rơm để sản xuất nấm rơm và phục vụ chăn nuôi. Ðến nay, nông dân tại nhiều quận, huyện trên địa bàn thành phố cũng đã quan tâm thu gom và khai thác khá tốt nguồn rơm rạ sau các mùa thu hoạch lúa để kiếm thêm thu nhập chứ không đốt bỏ lãng phí. Ðặc biệt, nông dân đã sử dụng rơm để trồng nấm rơm và rơm sau khi trồng nấm lại tiếp tục tái sử dụng làm phân bón hữu cơ phục vụ nhiều loại cây trồng.

Phát triển, nhân rộng

Hiện nay, nông dân đã quen sử dụng các loại phân bón hữu cơ để phục vụ sản xuất rau màu, cây ăn trái. Tuy nhiên, việc sử dụng phân bón hữu cơ trong sản xuất lúa vẫn còn chưa nhiều. Do vậy, cùng với việc hướng dẫn nông dân sản xuất phân bón hữu cơ từ rơm rạ, ngành Nông nghiệp TP Cần Thơ cũng đang tích cực khuyến khích, hỗ trợ nông dân tăng cường sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất lúa. Theo bà Phạm Thị Minh Hiếu, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Cần Thơ, trong vụ lúa đông xuân 2022-2023, Chi cục đã quan tâm hỗ trợ nông dân thực hiện các mô hình sử dụng phân bón hữu cơ trên lúa nhằm làm điểm nhân rộng. Chi cục hỗ trợ phân bón hữu cơ cho nông dân một số hợp tác xã và tổ hợp tác tại các quận, huyện như Thốt Nốt, Thới Lai và Cờ Ðỏ để tiến hành bón cho ruộng lúa ngay từ đầu vụ.

Ông Lưu Văn Ðình, Thành viên của Hợp tác xã nông nghiệp An Phú ở xã Thạnh Phú, huyện Cờ Ðỏ, cho biết: “Vụ đông xuân 2022-2023 này, tôi có 1 héc-ta lúa được ngành Nông nghiệp Cần Thơ và IRRI hỗ trợ 1 tấn phân bón hữu cơ để thực hiện mô hình trình diễn sử dụng phân bón hữu cơ trên lúa. Ðây là loại phân bón được sản xuất bởi Tổ hợp tác Nông trại xanh ở quận Thốt Nốt. Ðược sự hướng dẫn kỹ thuật từ cán bộ nông nghiệp, tôi đã tiến hành bón lót phân hữu cơ cho ruộng lúa trước khi sạ. Ðến nay, ruộng lúa sạ giống Ðài Thơm 8 của tôi đã được gần 20 ngày tuổi, lúa xanh mượt và phát triển tốt hơn rất nhiều so với ruộng lúa không xài phân bón hữu cơ”. Theo ông Trần Văn Ðào, thành viên Tổ hợp tác Nông trại xanh ở quận Thốt Nốt, hiện tổ hợp tác có 7 thành viên, với diện tích canh tác lúa gần 5ha. Vụ đông xuân 2022-2023 ông cũng có 1ha lúa tham gia mô hình trình diễn sử dụng phân bón hữu cơ trên lúa để làm điểm nhân rộng. Ruộng lúa đã sạ được hơn 20 ngày, lúa lên rất đều, xanh mướt. Ông Ðào đánh giá rất cao về hiệu quả và sự cần thiết phải tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ cho lúa, đồng thời giảm sử dụng phân bón hóa học, nhất là khi giá các loại phân bón hóa học đang tăng cao. Ðặc biệt, sử dụng phân bón hữu cơ từ rơm rạ là nguồn nguyên liệu dễ tìm và cũng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Cần Thơ, việc sử dụng rơm rạ và các phế phụ phẩm thải ra từ các quá trình trồng trọt và chăn nuôi để làm nguyên liệu cho các quá trình sản xuất mới là rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Ðây cũng là giải pháp quan trọng góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường trong sản xuất nông nghiệp, nông dân cần quan tâm thực hiện.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Khánh Trung

Liên kết phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn tại ĐBSCL

Liên kết phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn tại ĐBSCL

Những năm qua, hoạt động của các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp ở ÐBSCL có sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nguồn nguyên liệu đầu vào tăng cao, yêu cầu khắt khe từ thị trường đòi hỏi các HTX phải nhanh chóng chuyển mình thích ứng. Trong đó, việc ứng dụng khoa học công nghệ; phát triển mô hình kinh tế xanh và nông nghiệp tuần hoàn được xem là hướng đi, giải pháp tối ưu cho các HTX nông nghiệp ở thời điểm hiện tại và tương lai.

Vú sữa trồng theo tiêu chuẩn VietGAP tại HTX Vườn cây ăn trái Trường Khương A.

Tại diễn đàn HTX nông nghiệp với chủ đề phát triển kinh tế xanh và nông nghiệp tuần hoàn trong các HTX nông nghiệp, ông Lê Ðức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, nhấn mạnh: ÐBSCL là vùng phát triển hàng hóa lớn nhưng phải đối phó với nhiều thách thức, trong đó có biến đổi khí hậu. Nông nghiệp tuần hoàn có vai trò quan trọng biến những thách thức thành cơ hội phát triển nông nghiệp bền vững vùng ÐBSCL ứng phó với biến đổi khí hậu. Ðể phát triển kinh tế xanh và nông nghiệp tuần hoàn đem lại hiệu quả phải triển khai ở quy mô rộng và có tính liên kết.

Thực tế tại ÐBSCL đã xuất hiện khá nhiều mô hình sản xuất theo hướng nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn như mô hình lúa – thủy sản kết hợp vùng ven biển ÐBSCL; mô hình VAC+ tại ÐBSCL… Bên cạnh đó, các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn sẽ là nền tảng phát triển kinh tế tuần hoàn trong tương lai. Ông Trần Văn Chiến, Giám đốc HTX Vườn cây ăn trái Trường Khương A, huyện Phong Ðiền, TP Cần Thơ, cho biết: “HTX chuyên trồng sầu riêng, vú sữa theo tiêu chuẩn VietGAP, Global GAP để đáp ứng yêu cầu bao tiêu của doanh nghiệp và phục vụ xuất khẩu. Chúng tôi nhận thức phát triển kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu trong HTX rất quan trọng, góp phần nâng cao hơn nữa thu nhập của các thành viên, sản phẩm làm ra an toàn, chất lượng. Tuy nhiên để ứng dụng được kinh tế tuần hoàn vào sản xuất đòi hỏi mỗi thành viên phải thay đổi tư duy trong sản xuất và bắt đầu từ những công đoạn nhỏ nhất. Với vai trò là Giám đốc HTX, tôi sẽ định hướng xã viên tận dụng các cành, nhánh, trái hư ủ để lấy phân hữu cơ, bón lại cho vườn cây”.

Nhấn mạnh vai trò liên kết trong phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, ông Nguyễn Quốc Bảo, HTX Bưởi da xanh Bến Tre, cho rằng, nếu phạm vi một hộ áp dụng nông nghiệp tuần hoàn sẽ khó nhưng nếu áp dụng quy mô HTX cùng làm kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn sẽ mang giá trị không chỉ cho hợp tác xã mà còn giúp bảo vệ môi trường, tạo hiệu ứng xã hội. Tại HTX Bưởi da xanh Bến Tre không chỉ các thành viên liên kết với nhau mà còn liên kết với HTX nuôi bò sữa để lấy phân bò nuôi trùn quế làm phân bón cho cây bưởi.

Hiện tại, các HTX nông nghiệp tại ÐBSCL đang phải đối mặt với các vấn đề như quy mô vốn, tài sản thấp, tích lũy chậm; tỷ lệ hợp tác xã ứng dụng khoa học công nghệ, tham gia liên kết chuỗi giá trị còn thấp; ứng dụng công đoạn sau thu hoạch còn hạn chế… Vì vậy, theo TS Hoàng Vũ Quang, Phó Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, để phát triển nông nghiệp xanh và nông nghiệp tuần hoàn trong các HTX nông nghiệp trước tiên cần củng cố, nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của HTX; giúp HTX chuyển đổi sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Ðồng thời, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ của Nhà nước; xã hội hóa nguồn lực đầu tư, tăng cường hợp tác quốc tế và các tác nhân khác. Các địa phương cũng cần đẩy mạnh công tác truyền thông; mở các lớp đào tạo, tập huấn, tham quan học tập để chuyển dần từ sản xuất theo các mô hình tuyến tính sang các mô hình sản xuất xanh, tuần hoàn…

Ði thẳng vào việc phát triển sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn trên cây lúa – cây trồng chủ lực của ÐBSCL, TS Nguyễn Kim Thu, Viện Lúa ÐBSCL, nhấn mạnh: Nhà nước cần thay đổi các chính sách và cơ chế cắt giảm phát thải khí nhà kính như hỗ trợ ứng dụng công nghệ vào sản xuất và quản lý thay vì chỉ hỗ trợ tài chính cho các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu. Bởi hiện tại rất khó để thuyết phục nông dân tham gia sản xuất phát thải carbon thấp vì chưa có chính sách hỗ trợ, cải thiện thu nhập cho nông dân trồng lúa thực hành canh tác phát thải cacbon thấp. Cùng với đó, tăng cường công tác tuyên truyền để tạo sự đồng thuận trong nhận thức và hành động của nông dân, người trực tiếp sản xuất lúa gạo để họ có những biện pháp giảm phát thải: sử dụng rơm rạ thành nguồn lợi thay vì đốt bỏ, ủ rơm thành phân bón…

Có thể thấy rằng, phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn là hướng đi đúng đắn và tất yếu của nền nông nghiệp ÐBSCL. Theo đó, nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn phải tuân thủ nguyên lý 3R: reduce (giảm tài nguyên đầu vào), reuse (tái sử dụng) và recycling (tái chế). Và để quá trình này đạt được kết quả như kỳ vọng cần có sự đồng thuận, thống nhất từ Trung ương đến địa phương từ khâu tuyên truyền, vận động đến xây dựng mô hình thích ứng cụ thể…

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Mỹ Thanh

Thới Lai tập trung xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu

Thới Lai tập trung xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu

Nhờ chung tay thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) nâng cao, NTM kiểu mẫu, diện mạo nông thôn huyện Thới Lai tiếp tục đổi mới, khởi sắc từng ngày. Từ những kết quả đã đạt được, huyện tăng cường triển khai các giải pháp phát triển đồng bộ và bền vững trên tất cả các lĩnh vực, qua đó làm cơ sở để các địa phương phấn đấu xây dựng xã đạt chuẩn NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu trong năm 2022 và những năm tiếp theo đúng lộ trình, kế hoạch đề ra.

Đường sá rộng thoáng, sạch đẹp, tạo thuận lợi người dân đi lại, vận chuyển nông sản. Trong ảnh: Đoạn đường đi qua xã NTM nâng cao Định Môn.

Giữa tiết trời se lạnh của tháng 11, về xã Ðịnh Môn (huyện Thới Lai), dường như không khí nơi đây như rộn ràng, vui tươi hơn, tràn ngập khắp các nẻo đường trong xã. Năm nay, Ðịnh Môn là 1 trong 2 xã của thành phố đi đầu trong phấn đấu xây dựng hoàn thành xã NTM kiểu mẫu theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2021-2025 vừa mới ban hành vào tháng 9-2022. Ông Nguyễn Văn Toàn, Chủ tịch UBND xã Ðịnh Môn chia sẻ: Cả hệ thống chính trị xã đã đồng lòng chung sức, chung tay tổ chức thực hiện các tiêu chí trong Bộ tiêu chí xã NTM kiểu mẫu của thành phố và đạt được một số kết quả khả quan.

Ðến nay, Ðịnh Môn đã cơ bản hoàn thành các yêu cầu, tiêu chí xã NTM kiểu mẫu. Theo đó, thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã đạt 71,65 triệu đồng/người/năm; có 2 mô hình ấp thông minh tại ấp Ðịnh Hòa A và ấp Ðịnh Phước. Xã xây dựng mô hình “khu dân cư NTM kiểu mẫu” tại ấp Ðịnh Yên, cụ thể: thực hiện trồng hoa 2 bên tuyến lộ giao thông 4m dài 2,7km; phát quang xây dựng cảnh quan môi trường sáng – xanh – sạch – đẹp; lắp đèn chiếu sáng công cộng. Trên địa bàn xã còn có 2 hợp tác xã hoạt động hiệu quả và có hợp đồng liên kết theo chuỗi giá trị ổn định, gồm: Hợp tác xã Ðồng Tâm đang liên kết với Công ty TNHH Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu để tiêu thụ sản phẩm nhãn Ido – sản phẩm OCOP đạt chuẩn 4 sao; Hợp tác xã Ðồng Tiến liên kết với Hợp tác xã Trí Vinh để mua bán rau sạch cho Công ty Nông sản Xanh…

Tại xã Trường Xuân A, xây dựng xã NTM nâng cao đã thổi thêm luồng sinh khí ấm áp đến vùng quê này khi đời sống người dân được nâng cao cả về vật chất và tinh thần. Nhiều công trình giao thông mang dấu ấn của cộng đồng khi người dân sẵn sàng góp tiền của, chung sức cùng địa phương xây dựng NTM nâng cao. Các tuyến đường được phân công cho các hội, đoàn thể và người dân thường xuyên dọn vệ sinh, trồng hoa, góp phần tại cảnh quan môi trường. Bên cạnh đó, nông dân tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hình thành vùng sản xuất, vùng chuyển đổi cho hiệu quả kinh tế cao. Xã còn đề ra các phương án hỗ trợ đối tượng nghèo phát triển kinh tế, thoát nghèo bền vững. Theo đó, thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã hơn 64,3 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,48%…

Phấn khởi trước sự đổi thay của quê hương, chú Lê Minh Trí, xã Trường Xuân A, bày tỏ: “Tôi rất vui mừng khi mỗi năm xã nhà lại ngày càng khởi sắc, đời sống bà con khấm khá hơn. Chính quyền và người dân ngày càng gắn bó, đoàn kết cùng nhau phát triển quê hương. Bà con ai nấy đều rất hài lòng, chung tay cùng chính quyền địa phương xây dựng NTM nâng cao, tiếp tục là NTM kiểu mẫu”…

Trong năm 2022, huyện Thới Lai đăng ký xã Ðịnh Môn phấn đấu hoàn thành đạt chuẩn NTM kiểu mẫu; 2 xã NTM nâng cao, gồm: Trường Xuân A, Tân Thạnh và phấn đấu hoàn thành thêm xã NTM nâng cao Xuân Thắng. Ðây là huyện có số lượng đăng ký xã NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu nhiều nhất của thành phố trong năm 2022. Ðặc biệt, đây cũng là năm đầu tiên thành phố áp dụng bộ tiêu chí NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu giai đoạn 2021-2025 với yêu cầu các chỉ tiêu, tiêu chí cao hơn so với giai đoạn trước. Với tâm thế “xây dựng NTM chỉ có khởi đầu, không có điểm kết thúc”, các địa phương tập trung nâng chất các tiêu chí hướng đến NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Ðến nay, cả 4 xã đều đã cơ bản hoàn thành các tiêu chí theo yêu cầu đề ra và thực hiện hồ sơ, thủ tục đề nghị thành phố xem xét, công nhận xã đạt chuẩn NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu năm 2022.

Ông Nguyễn Thành Út, Chủ tịch UBND huyện Thới Lai, cho biết: Ðể hoàn thành mục tiêu trên, ngay từ đầu năm, huyện chỉ đạo các xã đăng ký hoàn thành NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu phấn đấu quyết liệt, quyết tâm để hoàn thành các chỉ tiêu, tiêu chí theo quy định như kế hoạch đề ra. Ðồng thời, đề nghị xã tích cực tuyên truyền cho người dân hiểu rõ về mục tiêu xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu mang lại và huy động sự vào cuộc của đông đảo người dân. Trong đó, tập trung phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập người dân; đổi mới và xây dựng các mô hình kinh tế hợp tác, các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả. Tăng cường trồng cây xanh, hoa kiểng trên các tuyến đường của xã, tạo cảnh quan sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn.

Những thành công trong xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu của Thới Lai tiếp tục khẳng định ý nghĩa thiết thực của chương trình. NTM nâng cao hay NTM kiểu mẫu là dấu mốc là động lực để các địa phương tiếp tục xây dựng thành công xã NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu cũng như Thới Lai hướng tới huyện NTM nâng cao trong thời gian tới…

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: T. Trinh

Cần Thơ xây dựng 30 hợp tác xã điển hình vào năm 2025

Cần Thơ xây dựng 30 hợp tác xã điển hình vào năm 2025

Theo Liên minh Hợp tác xã (HTX) TP Cần Thơ, hiện thành phố có 301 HTX, với hơn 12.800 thành viên, tổng vốn điều lệ hơn 700 tỉ đồng và doanh thu bình quân đạt 2.400 tỉ đồng/năm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội thành phố.

Để nâng cao năng lực thích ứng cho các tổ hợp tác, HTX trong tình hình mới, ngoài công tác tư vấn hỗ trợ cho các HTX tham gia các lớp đào tạo kỹ năng kinh doanh trên nền tảng số, Liên minh HTX thành phố còn phối hợp với ngành hữu quan tổ chức cho các HTX tham gia quảng bá và kết nối tiêu thụ sản phẩm trên các sàn thương mại điện tử, đồng thời, triển khai nhiều chương trình thúc đẩy phát triển liên kết sản xuất giữa HTX với HTX và giữa HTX với doanh nghiệp… Qua đó, thành phố đã có nhiều điển hình trong lĩnh vực nông nghiệp như HTX Khiết Tâm, huyện Vĩnh Thạnh, HTX nông nghiệp Đại Lợi, huyện Thới Lai… có từ 100 thành viên trở lên, vốn điều lệ từ 1 – 7 tỉ đồng, diện tích sản xuất từ 300 – 1.000ha, có hợp đồng liên kết với các đối tác, doanh nghiệp, không chỉ đảm bảo đầu ra tiêu thụ, mà còn gia tăng chuỗi giá trị nông sản chủ lực của thành phố.

Từ nay đến năm 2025, thành phố phấn đấu thành lập mới đạt 1.500 tổ hợp tác và có trên 340 HTX, thu hút trên 50% hộ nông dân nông thôn tham gia kinh tế tập thể, từ đó sẽ tạo điều kiện cho thành phố mở rộng quy mô và xây dựng 30 mô hình HTX điển hình tiên tiến.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Mỹ Hoa

Nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu cho hợp tác xã nông nghiệp vùng ĐBSCL

Nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu cho hợp tác xã nông nghiệp vùng ĐBSCL

Quang cảnh hội nghị triển khai Đề án.

Chiều 22-11, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phối hợp với UBND TP Cần Thơ tổ chức hội nghị triển khai Ðề án nâng cao năng lực hợp tác xã (HTX) nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu (BÐKH) vùng ÐBSCL, giai đoạn 2021-2025 (Ðề án). Ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, ông Nguyễn Ngọc Hè, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ cùng lãnh đạo các sở, ngành hữu quan và các HTX nông nghiệp vùng ÐBSCL dự hội nghị.

Hiện ÐBSCL có 2.431 HTX nông nghiệp, trong đó, có nhiều mô hình HTX sản xuất quy mô lớn, thực hiện cơ giới hóa đồng bộ, ứng dụng công nghệ cao, liên kết hợp tác, phát triển chuỗi giá trị nông sản chủ lực của các địa phương. Ðề án được triển khai nhằm thúc đẩy phát triển bền vững các HTX nông nghiệp vùng ÐBSCL. Phấn đấu, đến năm 2025, vùng ÐBSCL có 100% HTX nông nghiệp được tuyên truyền, bồi dưỡng nâng cao nhận thức về BÐKH và biện pháp thích ứng với BÐKH trong sản xuất kinh doanh, chế biến, bảo quản sản phẩm nông lâm, thủy sản và diêm nghiệp; mỗi tỉnh, thành phố xây dựng từ 3-5 mô hình HTX nông nghiệp áp dụng các biện pháp thích ứng hiệu quả với BÐKH, kết hợp mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường để nghiên cứu, học tập và nhân rộng;…

Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Trần Thanh Nam cho biết: Ðề án hướng tới mục tiêu chuyển đổi mô hình sản xuất hiệu quả, phát triển kinh tế nông nghiệp tuần hoàn ở các HTX. Trong đó, tập trung hướng tới việc chuyển đổi sản xuất 1 triệu héc-ta lúa theo hướng chuyên canh chất lượng cao, giảm phát thải nhà kính…; phát triển bền vững chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo; thúc đẩy hình thành các mô hình HTX nông nghiệp tuần hoàn, tăng trưởng xanh tại vùng ÐBSCL.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Mỹ Hoa

Hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất và tiêu thụ sầu riêng

Hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất và tiêu thụ sầu riêng

Sầu riêng là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao được nông dân tại TP Cần Thơ phát triển trồng. Ðể tạo thuận lợi về đầu ra cho trái sầu riêng, ngành chức năng TP Cần Thơ hỗ trợ nông dân xây dựng mã số vùng trồng và áp dụng các quy trình sản xuất an toàn, chất lượng nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu. Hỗ trợ kết nối giữa nông dân, doanh nghiệp sản xuất, chế biến tiêu thụ sản phẩm.

Sầu riêng Ri6 được trồng ở huyện Phong Điền.

Cần Thơ có hơn 24.000ha cây ăn trái các loại, trong đó có khoảng 2.500ha trồng sầu riêng, tăng gần 2.000ha so với thời điểm năm 2015. Các loại sầu riêng được trồng trên địa bàn TP Cần Thơ cho chất lượng trái tốt và thơm ngon, chủ yến là sầu riêng hạt lép Ri6. Cây sầu riêng đã được phát triển trồng tại nhiều quận, huyện như Ô Môn, Thốt Nốt, Phong Ðiền, Thới Lai và Cờ Ðỏ, trong đó nhiều nhất là tại huyện Phong Ðiền, với 2.000ha. Nhờ năng suất, chất lượng trái tốt và bán được giá, thời gian qua nhiều hộ dân trồng sầu riêng đạt thu nhập khá cao.

Ông Ðồng Ngọc Phước, ngụ ấp Trường Trung A, xã Tân Thới, huyện Phong Ðiền, có 6 công đất trồng sầu riêng Ri6, cho biết: “Vườn sầu riêng Ri6 được trồng và chăm sóc tốt có thể cho năng suất trái từ 2,5-3 tấn/công. Nếu bán sầu riêng được giá từ 45.000-60.000 đồng/kg như thời gian qua, người trồng sầu riêng có thể thu được lợi nhuận từ 60-80 triệu đồng/công, thậm chí cao hơn”. Theo anh Nguyễn Thanh Tâm ngụ ấp Trường Khương A, xã Trường Long, huyện Phong Ðiền, hiện gia đình anh có 2ha trồng sầu riêng, trong đó 1ha đã cho trái và năm nay đã thu được hơn 20 tấn và bán được với giá từ 45.000-50.000 đồng/kg, trừ đi chi phí, tính ra anh có lời khoảng 600-700 triệu đồng. Giống sầu riêng đang được ông trồng là Ri6 và Mỏn Thon.

Cây sầu riêng cho hiệu quả kinh tế rất cao nhưng nông dân cũng đang có những mối lo về đầu ra sản phẩm trong thời gian tới, nhất là khi diện tích cây sầu riêng đã tăng mạnh tại nhiều địa phương trong cả nước. Ðồng thời, việc trồng sầu riêng tại nhiều nơi hiện còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa có mã số vùng trồng, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, nông dân chủ yếu tiêu thụ tại nội địa. Vào mùa thu hoạch rộ, lượng trái sầu riêng cần tiêu thụ tại các địa phương là rất lớn và sẽ còn tăng lên trong thời gian tới. Theo ông Huỳnh Văn Hoảnh, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Tân Thới 1 ở huyện Phong Ðiền, để ổn định đầu ra, nông dân cần tăng cường liên kết với nhau và với doanh nghiệp trong sản xuất, chế biến và mở rộng thị trường tiêu thụ. Kịp thời xây dựng mã số vùng trồng và đảm bảo các tiêu chuẩn để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, đây cũng là vấn đề mà HTX đang tập trung thực hiện.

Ðể đáp ứng yêu cầu sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ, hiện ngành Nông nghiệp TP Cần Thơ cùng các sở, ngành thành phố và địa phương đang tích cực hỗ trợ nông dân xây dựng mã số vùng trồng. Ðồng thời, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và quy trình canh tác tiên tiến để sản phẩm đạt chất lượng, an toàn, đáp ứng yêu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Khuyến khích nông dân liên kết, hình thành các HTX, tổ hợp tác và vùng chuyên canh trồng sầu riêng để thuận lợi kết nối với các doanh nghiệp, nhà tiêu thụ.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) TP Cần Thơ, đến nay tại các quận, huyện của thành phố đã thành lập được 8 HTX và tổ hợp tác trồng sầu riêng, áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Các HTX và tổ hợp tác thu hút 154 hộ dân tham gia, tổng diện tích trồng sầu riêng hơn 117ha, sản lượng hơn 2.850 tấn/năm. Hiện sầu riêng trồng tại nhiều HTX cũng đã có mã số vùng trồng. Bà Trần Thị Kim Thúy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thuộc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, cho biết ” Ðể phát triển bền vững cây sầu riêng, tới đây Chi cục tiếp tục phối hợp các đơn vị có liên quan đẩy mạnh tuyên truyền, thúc đẩy nông dân tăng cường liên kết để khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ. Hỗ trợ người dân trong xây dựng mã số vùng trồng gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát các mã số vùng trồng đã được cấp. Tập huấn, hướng dẫn nông dân chăm sóc cây, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật an toàn, hiệu quả, đặc biệt lưu ý một số hoạt chất cảnh báo của các thị trường xuất khẩu. Kết nối giữa nông dân với doanh nghiệp và hỗ trợ các doanh nghiệp duy trì vùng nguyên liệu sầu riêng xuất khẩu hiện có và mở rộng các vùng trồng trên địa bàn”.

Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ TP Cần Thơ đã phối hợp với Sở NN&PTNT TP Cần Thơ cùng Công ty TNHH Ðầu tư và Phát triển Vạn Hòa tổ chức hội nghị “Phát triển cây sầu riêng với mã số vùng trồng” nhằm cung cấp các thông tin cần thiết và hỗ trợ nông dân kết nối với doanh nghiệp xuất khẩu. Dịp này, Công ty Vạn Hòa đã ký thỏa thuận liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm cho nông dân trồng sầu riêng tại HTX Tân Thới 1 ở huyện Phong Ðiền. Công ty cũng đã chia sẻ thông tin về các chính sách bao tiêu sản phẩm mà đơn vị đang áp dụng và mong muốn được liên kết với nhiều nông dân tại nhiều HTX, tổ hợp tác trên địa bàn TP Cần Thơ để phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu. Theo ông Lê Anh Trung, Giám đốc đối ngoại Công ty TNHH Ðầu tư và Phát triển Vạn Hòa, Cần Thơ có nhiều tiềm năng phát triển cây sầu riêng. Công ty muốn liên kết với nông dân tại Cần Thơ để phát triển vùng nguyên liệu sầu riêng xuất khẩu. Hiện công ty đã ký kết hợp tác, cung cấp sầu riêng cho đối tác ở Trung Quốc với sản lượng 300.000 tấn/năm. Bên cạnh bao tiêu sản phẩm và thực hiện chốt giá thu mua từ 10-15 ngày trước thời điểm thu hoạch, công ty cũng trợ vốn cho nông dân và các đối tác mức 50 triệu đồng/ha từ đầu vụ. Ðồng thời, áp dụng nhiều chính sách khen thưởng, hỗ trợ, hướng dẫn trong xây dựng mã số vùng trồng và sản xuất đạt chuẩn xuất khẩu.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Khánh Trung

Liên kết vùng – tăng sức mạnh hợp tác xã

Liên kết vùng - tăng sức mạnh hợp tác xã

Mặc dù cả nước hiện có 28.000 hợp tác xã, 13.000 tổ hợp tác và khoảng 200 liên hiệp hợp tác xã nhưng đến nay vẫn còn khoảng 70% hợp tác xã chưa liên kết với doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm chủ yếu qua trung gian.

Do đó, để bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nhiều ý kiến cho rằng hợp tác xã phải tăng cường liên kết để phát huy sức mạnh tổng hợp cũng như nâng cao giá trị sản phẩm trong tiêu thụ và xuất khẩu.

Thu hoạch lúa Đông Xuân ở Hợp tác xã Kênh 4A, xã Tân Hiệp A, huyện Tân Hiệp (Kiên Giang).

Mắt xích rời rạc

Trong bối cảnh hội nhập và yêu cầu ngày càng cao từ thị trường xuất khẩu, thời gian qua đã xuất hiện một số mô hình liên kết theo chuỗi giá trị, mô hình liên kết dọc, liên kết ngang từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm, mang lại hiệu quả rõ nét về kinh tế – xã hội, môi trường.

Đơn cử như Hợp tác xã Tân Hiệp Phát, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã chủ động liên kết với các hộ dân và nhiều hợp tác xã khác ở các huyện Thới Lai, Cờ Đỏ… thực hiện mô hình trồng chuối xuất khẩu theo chuỗi giá trị hàng hóa.

Đáng lưu ý, những mô hình liên kết ở các cấp độ vùng, miền khác nhau này không chỉ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm mà còn tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho thành viên hợp tác xã, giảm áp lực di dân về đô thị lớn tìm việc làm.

Ở mức độ lớn hơn, Tập đoàn Lộc Trời là đơn vị liên kết với hàng trăm hợp tác xã khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Trung sản xuất hàng chục nghìn ha lúa giống có chất lượng cao, cùng quy trình sản xuất, chỉ dẫn địa lý, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Mô hình này đang cung cấp gạo ra thị trường thế giới ổn định về chủng loại và chất lượng, được nhiều nước đánh giá cao.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, mô hình liên kết vùng theo chuỗi giá trị hiện đại chưa nhiều cũng như chưa có sự kết nối, liên kết mạnh mẽ để phát triển sản xuất kinh doanh giữa hợp tác xã.

Bởi, nếu hợp tác xã thúc đẩy liên kết vùng sẽ tạo sự chia sẻ, lan tỏa kinh nghiệm tốt trong sản xuất, kinh doanh và quản lý mô hình hợp tác xã, quản lý chuỗi giá trị. Đặc biệt, qua đó sẽ góp phần đáng kể về thu hút tham gia hợp tác, hội nghị vùng, xúc tiến đầu tư, thương mại vùng… từ đó mở rộng đầu ra cho hợp tác xã.

Ông Tạ Việt Hùng, Giám đốc Hợp tác xã Đầu tư nông trại xanh và Phát triển bò Ba Vì, Hà Nội cho biết, để tránh điệp khúc được mùa mất giá nhất là tại hợp tác xã, việc bắt tay với doanh nghiệp đưa hàng hóa vào siêu thị tiêu thụ là ưu tiên hàng đầu.

Tuy nhiên, dù đã thực hiện nghiêm ngặt từ khâu sản xuất đến thu hoạch nhưng khi bắt mối đưa hàng vào siêu thị hợp tác xã vẫn nhận những cái lắc đầu từ chối và cho rằng nông sản khó bảo quản, chất lượng mặt hàng chưa đồng đều, tiêu chuẩn chưa tương xứng.

Một hạn chế nữa với hợp tác xã hiện nay là không có tài sản thế chấp dẫn đến việc khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn. Thế nhưng, cơ chế thanh toán các siêu thị đưa ra kéo dài đến 45 ngày khiến hợp tác xã loay hoay không đủ vốn quay vòng sản xuất.

Cùng quan điểm này, ông Lê Văn Tám, Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã Sông Hồng, Hà Nội cũng chỉ ra, hợp tác xã rất muốn liên kết với doanh nghiệp nhưng khó khăn về giấy tờ, cách thức kết nối với doanh nghiệp đang khiến đầu ra nông sản, sản phẩm chế biến sâu chưa được rộng mở. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến hợp tác xã bị gò bó trong sản xuất kinh doanh và chưa tạo được lòng tin với người tiêu dùng.

Tạo thế vững chãi

Nhìn nhận về vấn đề này, theo các chuyên gia, để đẩy mạnh liên kết vùng, hợp tác xã cần tận dụng lợi thế về vị trí địa lý, giao thông kết nối thuận tiện giữa các tỉnh, thành phố để bổ trợ cho nhau. Điều này còn giúp hợp tác xã phát huy lợi thế so sánh của mỗi địa phương về tiềm năng và nguồn lực phát triển sản xuất kinh doanh.

Hơn nữa, sự hợp tác giữa hợp tác xã sẽ làm phong phú và đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra những sản phẩm đặc thù chất lượng cao, từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh và lợi thế phát triển hàng hóa.

Điển hình như mô hình Hợp tác xã Chuối Viba, tỉnh Hòa Bình với điểm nhấn là vùng nguyên liệu không chỉ được sản xuất ở Hòa Bình mà còn được mở rộng trồng và liên kết với người dân, hợp tác xã ở Chương Mỹ, Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Việc liên kết phát triển vùng nguyên liệu không chỉ giúp hợp tác xã dễ dàng trong việc vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm mà còn hạn chế thiệt hại do thiên tai.

Để tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế, bà Thạch Thị Chal Thi, Giám đốc Công ty TNHH Trà Vinh Farm (Sokfarm -tỉnh Trà Vinh) cho rằng, doanh nghiệp, hợp tác xã cần cập nhật xu thế tiêu dùng mới, tiếp cận khách hàng tiềm năng. Cùng đó, sản phẩm phải mang tính đặc trưng và chất lượng bảo đảm. Nếu hợp tác xã sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ, chú trọng yếu tố tự nhiên và có giấy chứng nhận đầy đủ sẽ là điểm mạnh để thuyết phục thị trường khó tính.

Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường và công nghệ số cần xác định liên kết vùng là chìa khóa để hợp tác xã và doanh nghiệp phát triển với sản phẩm chủ lực. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho Việt Nam trong xây dựng thương hiệu phục vụ xuất khẩu.

Bàn về liên kết vùng để tạo sức mạnh tổng hợp, bà Trần Thị Hồng Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhấn mạnh, Việt Nam cần hình thành và nâng cấp hệ thống cụm liên kết các ngành công – nông nghiệp chuyên môn hóa và tổ hợp công nghiệp quy mô lớn.

Mặt khác, cơ cấu lại khu kinh tế, khu công nghiệp theo hướng bền vững, sinh thái gắn với hình thành cụm liên kết ngành công nghiệp, mạng sản xuất, chuỗi giá trị công nghiệp có tính đến lợi thế so sánh của từng địa bàn, vùng theo hướng tăng cường hỗ trợ và kết nối chuỗi cung ứng trong nước.

Bà Trần Thị Hồng Minh cũng lưu ý việc thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn để sớm bắt nhịp phục hồi kinh tế và chuyển đổi xanh ở Việt Nam, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng chống chịu của doanh nghiệp và chuỗi cung ứng trước cú sốc từ bên ngoài.

Theo ông Nguyễn Văn Thịnh – Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, tới đây cần tiếp tục nghiên cứu hình thành tổ chức quản trị – điều hành cấp vùng phù hợp, đủ sức đảm đương và điều tiết nhu cầu cấp vùng và thực hiện quản lý nhà nước về phát triển vùng.

Hơn nữa, để đưa nông dân vào guồng máy sản xuất lớn trong nền nông nghiệp hiện đại cùng với sự liên kết của doanh nghiệp và hợp tác xã phải giải quyết được bài toán tích tụ ruộng đất.

Liên minh Hợp tác xã Việt Nam sẽ tổng hợp ý kiến đóng góp xung quanh vấn đề này và đề xuất lên Quốc hội, Chính phủ cũng như các bộ ngành để đưa ra giải pháp thúc đẩy liên kết vùng và kết nối tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp, hợp tác xã.

vca.org.vn

Nhà nông tích cực chuẩn bị mùa Tết

Nhà nông tích cực chuẩn bị mùa Tết

Thời điểm này, người dân tại TP Cần Thơ đang tích cực chăm sóc và xuống giống thêm nhiều loại rau màu và hoa kiểng để chuẩn bị phục Tết Nguyên đán 2023. Năm nay, sản xuất rau màu và hoa kiểng của nông dân có phần gặp khó do ảnh hưởng của thời tiết bất lợi và giá nhiều loại vật tư đầu vào tăng cao. Song, với việc dịch COVID-19 được kiểm soát tốt, nông dân kỳ vọng tới đây đầu ra nhiều loại hoa kiểng và rau màu Tết thuận lợi.

Trồng hoa tại HTX Hoa kiểng Tân Long A, huyện Phong Điền.

Hiện nay, hoa kiểng Tết đã được nông dân nhiều quận, huyện TP Cần Thơ trồng đa dạng về chủng loại. Nhiều loại hoa dài ngày, đặc biệt các loại hoa cúc đã được nông dân xuống giống trồng từ các tháng trước, cây hoa đã lên cao và nông dân đang tích cực chăm sóc để có những chậu hoa đẹp phục vụ Tết.

Ông Phan Văn Phụng ở ấp Tân Long A, xã Tân Thới, huyện Phong Điền, cho biết: “Năm nay, dịch COVID-19 được kiểm soát tốt, nhiều nhà vườn trồng hoa kiểng tin tưởng đầu ra thuận lợi nên đã triển khai sản xuất. Tôi cũng đã xuống giống gieo trồng được hơn 2.000 chậu hoa các loại, tăng hơn 1.000 chậu so với năm trước, trong đó chủ yếu là cúc mâm xôi, cúc Đài loan, cát tường, hoa dừa cạn. Tôi cũng đang dự kiến xuống giống thêm một số lượng vạn thọ”. Ông Tạ Thanh Tùng ở phường Long Hòa, quận Bình Thủy, cho biết: “Gia đình tôi đã xuống giống gieo trồng hơn 1.000 chậu cúc mâm xôi, cúc đại đóa và cát tường, trong khi Tết năm trước không sản xuất hoa Tết. Năm nay, trời mưa nhiều và con nước triều cường thường xuyên dâng cao đã gây nhiều khó khăn cho việc sản xuất, khiến tôi phải tốn thêm các chi phí để chống ngập cho hoa. Song, nhờ chủ động theo dõi và chăm sóc nên nhìn chung các chậu hoa của tôi đang phát triển khá tốt, hứa hẹn vụ mùa thắng lợi”.

Hằng năm, nhu cầu tiêu thụ nhiều loại rau màu trong dịp Tết cũng rất lớn, nhất là các mặt hàng như cải làm dưa, khổ qua và dưa hấu. Để đáp ứng nhu cầu thị trường, nông dân tại nhiều địa phương cũng đang đẩy mạnh xuống giống dưa hấu và nhiều loại rau ăn lá và rau quả. Anh Nguyễn Thanh Hải, ngụ ấp Thới Phong A, thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, cho biết: “Nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh sau đại dịch COVID-19 giúp giá dưa hấu đang ở mức khá cao với từ 7.000-9.000 đồng/kg. Tết tới đây giá dưa hấu có nhiều triển vọng tiếp tục duy trì ở mức cao do nhu cầu nhiều nên tôi đã mạnh dạn xuống giống gieo trồng 6 công dưa hấu, trong đó tôi chủ yếu trồng các loại dưa tròn phục vụ chưng Tết”. Theo anh Đào Nhựt Trường ở xã Thới Tân, huyện Thới Lai, cùng với trồng dưa hấu, anh cũng đã xuống giống 4 công khổ qua để phục vụ thị trường dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán 2023. Khổ qua trồng khoảng 45-50 ngày là bắt đầu cho trái và thời gian thu hoạch trái có thể kéo dài đến 2 tháng. Nếu giá khổ qua duy trì được ở mức từ 10.000 đồng/kg trở lên, người trồng khổ qua có thể kiếm lời 15-20 triệu đồng/công.

Dù có những tín hiệu lạc quan và tin tưởng đầu ra rau màu, hoa kiểng trong dịp Tết Nguyên đán 2023 thuận lợi nhưng nhiều nhà nông vẫn còn băn khoăn và lo lắng. Đặc biệt, nông dân sản xuất rau màu và hoa kiểng còn chưa có hợp đồng bao tiêu và đặt hàng của các đơn vị, doanh nghiệp và nhà tiêu thụ. Giá phân bón và nhiều chi phí đầu vào phục vụ sản xuất lại đang tăng rất cao. Nông dân rất mong ngành chức năng quan tâm có giải pháp kéo giảm giá các loại vật tư đầu vào và tăng cường công tác thông tin thị trường, hỗ trợ kết nối nông dân với các đơn vị, doanh nghiệp và nhà tiêu thụ, giúp nông dân có thể tìm được các đầu mối tiêu thụ từ sớm.

Anh Lê Khắc Qui, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Hoa kiểng Tân Long A ở xã Tân Thới, huyện Phong Điền, cho biết: “HTX Hoa kiểng Tân Long A có 38 thành viên, với diện tích đất canh tác hơn 27ha và hiện đã xuống giống gieo trồng hơn 150.000 chậu hoa kiểng các loại, tăng 50% so với năm trước. Hiện một số loại hoa kiểng của nông dân tại HTX đã có khách hàng đặt mua, đây là tín hiệu rất tích cực. Nhìn chung nhiều bà con vẫn chưa có hợp đồng đặt hàng từ sớm của các nhà tiêu thụ. Do vậy, HTX cũng rất mong ngành chức năng hỗ trợ kết nối cung – cầu, đặc biệt kết nối nông dân với các đơn vị tổ chức làm đường hoa và những nơi có nhu cầu tiêu thụ hoa với số lượng lớn trong dịp Tết”. Theo anh Nguyễn Thanh Hải ở huyện Thới Lai, nông dân trồng dưa hấu cũng mong được ngành chức năng hỗ trợ kết nối cung – cầu, quảng bá sản phẩm để tạo thuận lợi trong tiêu thụ, đồng thời được tiếp cận các nguồn vật tư đầu vào chất lượng và có giá cả phù hợp để giảm được chi phí.

Để hỗ trợ nông dân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) TP Cần Thơ cũng đã yêu cầu các đơn vị trực thuộc sở và ngành Nông nghiệp địa phương tăng cường khuyến nông, tập huấn, hỗ trợ nông dân xây dựng các mô hình sản xuất hiệu quả. Khuyến cáo nông dân lựa chọn sản xuất các loại rau màu, hoa kiểng phù hợp điều kiện sản xuất tại địa phương gắn với nhu cầu thị trường. Theo ông Trần Thái Nghiêm, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, để hạn chế rủi ro trong bối cảnh kinh tế chung có khó khăn và thị trường tiêu thụ hoa kiểng còn nhiều yếu tố không thuận lợi, nông dân cần chú ý tập trung sản xuất các loại hoa kiểng dễ trồng, có giá thành vừa phải, phục vụ nhu cầu thiết yếu dịp Tết. Đối với rau màu, cũng chú ý trồng các mặt hàng có nhu cầu nhiều và phải quan tâm sản xuất theo hướng chất lượng, an toàn để thuận lợi kết nối với các kênh tiêu thụ và có thể phát triển xuất khẩu, nhất là đối với dưa hấu.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Khánh Trung

Trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm phát triển sản phẩm OCOP

Trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm phát triển sản phẩm OCOP

Trong 2 ngày 17 và 18-11, Văn phòng Ðiều phối nông thôn mới TP Cần Thơ tiếp và làm việc với đoàn công tác của UBND huyện Thống Nhất, tỉnh Ðồng Nai đến học tập, trao đổi kinh nghiệm phát triển chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tại TP Cần Thơ.

Ðoàn công tác tham quan các sản phẩm OCOP tại Hợp tác xã nông nghiệp Ứng dụng công nghệ cao Giọt Phù Sa

Hai bên trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về quá trình tổ chức đánh giá và xếp hạng sản phẩm như các quy định chung; trình tự, thủ tục đánh giá, xếp hạng sản phẩm; hồ sơ đăng ký đánh giá, xếp hạng; nguyên tắc chấm điểm; chính sách về vốn, chính sách hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp; chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã,… Ðoàn cũng đến tham quan thực tế quá trình sản xuất, kinh doanh và tìm hiểu quá trình phấn đấu được công nhận sản phẩm OCOP tại Hợp tác xã nông nghiệp Ứng dụng công nghệ cao Giọt Phù Sa, làng du lịch Mỹ Khánh (huyện Phong Ðiền) và CanTho Farm (quận Bình Thủy).

Ðến nay, TP Cần Thơ công nhận được 92 sản phẩm OCOP. Trong đó, có 58 sản phẩm được công nhận 4 sao và 34 sản phẩm được công nhận 3 sao.

Theo Báo Cần Thơ
Tác giả: Mỹ Thanh